Chào mừng kỷ niệm 88 năm Ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam (18/11/1930 - 18/11/2018)!
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Danh nhân Thăng Bình

Đặng Dung (1373?-1414)*

Tác giả: Lê Thí Ngày đăng: 9:11 | 08/03/16 Lượt xem: 1887

Đặng Dung (1373-1414) là danh tướng dưới thời Hậu Trần, quê làng Tả Thiên Lộc, huyện Thiên Lộc, châu Nghệ An nay là xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Theo gia phả tộc Đặng thì tổ tiên 5 đời của Đặng Dung vốn cư ngụ tại Thăng Long sau đó mới di cư vào Nghệ An. Ông sinh năm Quý Sửu, 1373, trong một gia đình đại quý tộc. Ông cố là Thám hoa Đặng Bá Tĩnh làm quan đến chức Hành khiển dưới triều nhà Trần. Cha là Đặng Tất thi đậu Thái học sinh thời nhà Trần và được cử làm Đại tri châu Hóa Châu (Thừa Thiên - Quảng Trị) rồi Thăng Hoa (nam Quảng Nam), sau này được Giản Định Đế phong làm Quốc công, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Minh, giành độc lập.

     Dưới thời nhà Trần, Đặng Dung giúp cha cai quản vùng Hóa Châu. Khi nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần và đánh chiếm vùng Nam châu Hóa của người Chiêm lập bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, ông theo cha vào cai quản vùng đất mới Thăng Hoa. Khi nhà Hồ sụp đổ, Đặng Dung lại cùng cha tham gia cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi tức Giản Định Đế.
     Cuối năm 1408, Đặng Dung được cha phân công chỉ huy thủy quân đánh tan thủy quân nhà Minh trong trận Bô Cô trên sông Đáy (nay là xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định). Ông dùng cọc nhọn đóng xuống dòng sông, lợi dụng khi nước triều xuống thấp, dụ quân địch vào, sau đó cho quân lính dùng thuyền nhẹ tấn công. Quân địch bị vướng cọc nhọn thiệt hại nặng nề. Sau khi Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân bị Giản Định Đế giết hại một cách oan ức, Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Dị (con Nguyễn Cảnh Chân) bỏ Giản Định Đế đem quân bản bộ về Thanh Hóa, tìm Trần Quý Khoáng (Trần Quý Khoách) con thứ của Mẫn vương Trần Ngạc, cháu của vua Trần Nghệ Tông, rước vào Chi La, Nghệ An (nay là Đức Thọ, Hà Tĩnh), tôn lên làm vua, lấy hiệu là Trùng Quang Đế, cầm đầu cuộc kháng chiến chống quân Minh. Trùng Quang Đế phong cho Đặng Dung làm Đồng Bình chương sự (Tể tướng), Nguyễn Cảnh Dị làm Thái bảo, thống lĩnh toàn bộ lực lượng kháng chiến. Lực lượng kháng chiến lớn mạnh nhanh chóng. Đặng Dung đem quân giải phóng nhiều nơi như Nghệ An, Quảng Bình, Thuận Hóa. Trong khi lực lượng của Trùng Quang Đế lớn mạnh và thu được nhiều thắng lợi thì lực lượng của Giản Định Đế lại suy yếu bị quân Minh truy đánh phải lui về giữ thành Ngự Thiên (nay là huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Nhằm thống nhất lực lượng kháng chiến, Đặng Dung, gạt thù riêng bàn với Trùng Quang Đế cho Nguyễn Súy đánh úp thành Ngự Thiên, rước Giản Định Đế về Chi La, tôn làm Thái Thượng hoàng.
     Năm 1409, Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Dị và Trùng Quang Đế chỉ huy một cánh quân tiến ra giải phóng vùng Bình Than (Hải Dương, Quảng Ninh); cánh quân khác do Giản Định Đế và Nguyễn Súy chỉ huy tiến đánh  Hải Dương. Đặng Dung đưa quân chiếm giữ Hàm Tử, uy hiếp Đông Quan. Mộc Thạnh đánh không nổi, phải cầu cứu. Trương Phụ lại đem viện binh sang. Tháng 8/1409 Giản Định Đế bị bắt ở Nho Quan (Ninh Bình), bị đưa về Kim Lăng và giết chết. Tháng 9, Trương Phụ vây đánh Đặng Dung ở Hàm Tử. Vì thiếu lương thực nên Đặng Dung phải lui quân về Thanh Hóa. Quân Trương Phụ lại tấn công, Đặng Dung phải lui về Nghệ An. Đầu năm 1410, Đặng Dung lại tiến quân ra Thanh Hóa rồi hợp cùng Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Súy giải phóng vùng Đồng bằng Bắc Bộ (Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng, Nam Định).
     Năm 1411, Trương Phụ đem quân đánh Thanh Hóa, Đặng Dung đánh không lại phải lui về Nghệ An. Tháng 8/1413, Trương Phụ đem quân đánh vào Nhật Lệ (Quảng Bình) rồi tiến đánh Thuận Châu (Quảng Trị). Đặng Dung cho quân dùng thuyền nhỏ bất ngờ đánh thẳng vào thuyền trại của Trương Phụ đang đậu trên sông Ái Tử (Quảng Trị), đánh chìm và đốt cháy nhiều thuyền giặc. Đặng Dung cầm gươm nhảy lên thuyền Trương Phụ định bắt sống y nhưng vì trời tối nhận không ra, Trương  Phụ đã lẻn xuống thuyền nhỏ chạy trốn. Hôm sau giặc phản công Đặng Dung không cầm cự được phải chạy vào vùng rừng núi để cố thủ. Sau đó vào cuối năm 1413 (tháng 12) cả Đặng Dung lẫn Trùng Quang Đế, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Súy cùng bị bắt. Tháng 4/1414, Đặng Dung cùng Trùng Quang Đế và Nguyễn Súy bị giải sang Kim Lăng. Dọc đường tất cả đều nhảy xuống sông tuẫn tiết.
     Nhận định về cái chết của Đặng Dung, sử gia Trần Trọng Kim đã viết “Cha con ông Đặng Dung đều hết lòng giúp nước phò vua, tuy không thành công được, nhưng cái lòng trung liệt của nhà họ Đặng cũng đủ làm cho người đời sau tưởng nhớ đến, bởi vậy hiện nay còn có đền thờ ở huyện Can Lộc,tỉnh  Hà Tĩnh...” (1)
     Gần đây, Tiến sĩ Nguyễn Khắc Thuần, trong sách “Danh tướng Việt Nam” có viết: “Dù phải chiến đấu dưới quyền người đã giết cha mình, nhưng vì sự nghiệp chung Đặng Dung đã vượt lên trên tất cả, trước sau vẫn giữ vững phẩm cách đường đường của một vị tướng” (2).
     Năm 1428, Lê Lợi sau khi đánh xong quân Minh, ban chiếu cho Đặng Dung và cha là Đặng Tất tấm biển vàng có tám chữ: "Tiết liệt cương trung - Trung thần hiếu tử", và cho lập đền tại quê hương hai ông ở Tả Thiên Lộc (Hà Tĩnh) để thờ, cấp 200 mẫu ruộng lộc điền, giao cho huyện xã hằng năm cúng tế. Ngôi đền này hiện nay được Nhà nước công nhận là Di tích Văn hóa - Lịch sử cấp quốc gia.
     Vua Lê Thánh Tông ban chiếu tặng cha con ông hai câu đối:
     Quốc sĩ vô song, song quốc sĩ

     Anh hùng bất nhị, nhị anh hùng

     Nhiều nơi cũng lập đền thờ hai cha con ông và có đặt bảng đường mang tên Đặng Dung. Nhà nghiên cứu Nguyễn Q Thắng trong tác phẩm “Quảng Nam: Đất nước & Nhân vật” (3) cho biết trước đây ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam có đền thờ hai cha con Đặng Tất và Đặng Dung.
     Không những là vị tướng với những chiến công lừng lẫy, người anh hùng đã “vị quốc vong thân”,  Đặng Dung còn là một nhà thơ với bài “Cảm hoài” nổi tiếng, được truyền tụng qua nhiều thế hệ (4). Tuy chỉ bài thơ duy nhất nhưng với bài thơ Cảm hoài, tên tuổi của Đặng Dung đã có chỗ đứng trong lịch sử văn học và trong lòng người đời sau. Đây là bài thơ tự sự, ông viết theo thể thất ngôn bát cú:
     Nguyên tác:
     感懷
     世事悠悠奈老何
     無窮天地入酣歌
     時來屠釣成功易
     運去英雄飲恨多
     致主有懷扶地軸
     洗兵無路挽天河
     國讎未報頭先白
     幾度龍泉戴月磨

     Phiên âm Hán - Việt:
     Cảm hoài

     Thế sự du du nại lão hà?

     Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.

     Thời lai đồ điếu thành công dị,

     Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.

     Trí chủ hữu hoài phù địa trục,

     Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.

     Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,

     Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.

 
     Nhà thơ Tản Đà, Nguyễn Khắc Hiếu dịch:
     Việc đời man mác, tuổi già thôi!

     Đất rộng trời cao chén ngậm ngùi.

     Gặp gỡ thời cơ may những kẻ,

     Tan tành sự thế luống cay ai!

     Phò vua bụng những mong xoay đất,

     Gột giáp sông kia khó vạch trời!

     Đầu bạc giang san thù chửa trả,

     Long Tuyền mấy độ bóng trăng soi.


     Nhận định về bài thơ “Cảm  hoài” của Đặng Dung, Tiến sĩ Lý Tử Tấn,  Phó Nguyên soái Tao Đàn dưới thời Lê Thánh Tông, bạn đồng khoa với Nguyễn Trãi đã viết:"Phi hào kiệt chi sĩ bất năng!" (Nếu không phải là kẻ sĩ hào kiệt thì không thể làm nổi bài thơ này!)
     Ngày nay, “Từ điển văn học” (bộ mới) (5), đã nhận định về bài Cảm hoài:“Tuy là thơ của một người... ôm hận vì bất lực trước thời thế, người đọc vẫn thấy toát lên ở đây tình cảm cao cả tràn khắp đất trời, đó là lòng yêu nước thiết tha của một tráng sĩ vì nước bôn ba, là niềm tin và quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc qua hình tượng rất đẹp, rất thơ:“Mấy phen mang gươm Long Tuyền mài dưới trăng”.
     Đặng Dung có 4 người con trai là: Đặng Nghi, Giám sinh Quốc tử giám Đặng Địch Quả, Đặng Di, Hoàng giáp Đặng Công Thiếp.
     Hậu duệ của Đặng Dung sau này có nhiều người nổi tiếng như: Tiến sĩ Đặng Minh Khiêm (1457-?) Hoàng giáp Đặng Chiêm (1428-?), Thái Úy Đặng Huấn (?-1583),Tiến sĩ Đặng Đình Tướng (1649-1735), Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai (1902-1984), Tổng bí thư Trường Chinh (Đặng Xuân Khu, 1908-1988),Tiến sĩ Đặng Lương Mô(1930-…), Tiến sĩ toán học Đặng Đình Áng (1926-…).

Nhà thờ Đặng Dung ở xã Yên Trị, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
(Tương truyền là đền được nhân dân xây dựng khi Đặng Dung còn sống để nhớ ơn ông đã đến đây phát chẩn cứu đói và cho quân sĩ tôn cao đê giúp nhân dân chống lụt)
                                                                                         L.T

           Chú thích:
    * Phần lớn tài liệu không thấy đề cập đến năm sinh của Đặng Dung. Chúng tôi dựa vào “Địa dư chí Thừa Thiên-Huế”. Tài liệu này cho rằng ông sinh năm 1373, như vậy khi sinh ông Đặng Tất mới có 16 tuổi (Đặng Tất sinh 1357).
     (1) Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, trang 214
     (2) Tập IV, Nxb Giáo Dục, 2006, trang 236
     (3) Nxb VHTT, năm 2001.
     (4) Bài thơ này được chép trong tập Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn (1726 - 1784)
     (5) Nxb Thế Giới năm 2005.

L.T

Các tin khác:

CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ








Thông báo
















Thống kê truy cập

00006196786

Hôm nay: 1792
Hôm qua: 6974
Tháng này: 56092
Tháng trước: 99301
Năm này: 863744
Số người đang Online: 91