Chào mừng kỷ niệm 88 năm Ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam (18/11/1930 - 18/11/2018)!
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Danh nhân Thăng Bình

Thiền sư Hương Hải (1628 - 1715)

Tác giả: Lê Thí Ngày đăng: 9:08 | 08/03/16 Lượt xem: 2207

Hương Hải tục gọi là Tổ Cầu, là tác giả, cao tăng, sống vào cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII. Không rõ tên thật của ngài, chỉ biết quê gốc ở làng Áng Độ, huyện Chân Phúc (thời Tây Sơn đổi thành Chân Lộc, năm 1889 đổi thành Nghi Lộc), phủ Đức Quang, xứ Nghệ An, nay là huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

     Theo Lê Quý Đôn trong “Kiến văn tiểu lục” thì ông tổ năm đời của Sư làm quan Quản chu tượng - coi thợ đóng thuyền cho triều đình. Ông có hai người con trai. Người con cả (không rõ tên tuổi) có tước Hùng quận công, trông coi Lãng Doanh, quản đốc ba trăm lính thợ. Con thứ làm chức Phó cai quan, tước Trung lộc hầu, là ông Tổ bốn đời của Hương Hải. Khoảng niên hiệu Chính Trị (1558-1571) đời vua Lê Anh Tông, Trung lộc hầu theo Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa. Ông được Nguyễn Hoàng tin dùng nên thăng chức Chánh cai, quản lãnh các lính thợ đóng thuyền. Sau, Nguyễn Hoàng lại dâng sớ về triều kể rõ công trạng của ông, vua Lê phong cho ông hiệu Khởi Nghĩa Kiệt Tiết Công Thần, cấp cho ba mươi mẫu ruộng và con cháu được thế tập. Khi Trấn thủ Quảng Nam là Nguyễn Bá Quýnh được đổi về làm Trấn thủ Nghệ An, Nguyễn Hoàng kiêm quản luôn trấn Quảng Nam (1570) thì Trung Lộc hầu được cử vào Quảng Nam và đến định cư tại phủ Thăng Hoa.
     Hương Hải thiền sư sinh năm 1628 (1) ở  làng Bình Yên thượng, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Hoa (nay là xã Bình Dương, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam). Là người thông minh hiếu học nên khi mới 18 tuổi (1646), ngài đã thi đỗ Hương tiến (cử nhân), được bổ làm văn chức trong phủ Chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648). Sau đó được bổ làm Tri phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
     Năm 25 tuổi (1652), ngài được làm quen với Thiền sư Lục Hồ Viên Cảnh, một vị du tăng người Trung Hoa lúc bấy giờ đang hành đạo ở Đàng Trong và bắt đầu say mê nghiên cứu Phật học với vị thiền sư này. Ba năm sau, tức vào năm 1655, ngài từ quan, xuất gia với  nhà sư Viên Cảnh và được nhà sư này đặt cho pháp danh là Huyền Cơ Thiện Giác, pháp tự là Minh Châu Hương Hải. Sau đó Minh Châu Hương Hải còn được học đạo với một du tăng người Trung Hoa khác tên là Đại Thâm Viên Khoan.
     Sau khi xuất gia, ngài dong thuyền ra Cù Lao Chàm, nay thuộc xã Tân Hiệp, thành phố Hội An, lên núi Tiêm Bút La, cắt tranh chặt tre làm một thảo am ba gian để tu thiền. Tu được tám tháng thì gặp trở ngại nên ngài bỏ Tiêm Bút La về lại đất liền định lập am ở làng Bình Yên Thượng, phủ Thăng Hoa để tiếp tục tu hành. Người dân ở Cù Lao Chàm cho người đi tìm và rước ngài ra lại đảo. Ngài cùng đệ tử trở lại đảo và hành đạo tại đây suốt 8 năm. Trong thời gian này, ngài có trở lại đất liền hai lần để chữa bệnh. Lần thứ nhất được trấn thủ Quảng Nam là Thuần quận công thỉnh về để cầu an chữa bệnh cho phu nhân. Sau khi lành bệnh, phu nhân và cả gia đình đã lạy ngài để xin quy y đầu Phật. Lần thứ hai vào năm 1665, Tổng Thái giám Hoa Lễ Hầu đã cho người đưa thuyền ra đảo thỉnh ngài về lập  tràng sám hối để chữa cho ông khỏi bệnh lao.
     Nghe tiếng đồn về tài năng và đạo hạnh của ngài, chúa Nguyễn Phúc Tần (tức chúa Hiền 1648-1687) cho đón ngài về kinh, xây Thiền Tĩnh Viện trên núi Qui Kinh (nay thuộc xã Hoài Ân, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế) cho ngài giảng đạo và cầu an cho hoàng tộc, đất nước. Quốc Thái phu nhân (mẹ Nguyễn Phúc Tần) và ba công tử Phúc Mỹ, Hiệp Đức và Phúc Tộ cùng đến quy y học đạo với ngài. Các quan lại trong triều, dân chúng và cả quân lính cũng đến lạy ngài xin qui y. Theo Nguyễn Lang thì con số lên đến 1300 người và lúc này Thiền Tĩnh Viện trở thành một trung tâm Phật giáo nổi tiếng của xứ Đàng Trong. Trong số người đến qui y, lui tới chùa có quan thị nội giám Gia quận công vốn là người từ Đàng Ngoài trốn chúa Trịnh vào Nam được Chúa tin dùng, rất tâm đắc với ngài, thường xuyên đến chùa cùng ngài đàm đạo về đạo pháp. Vì việc này Quan thị nội giám Gia quận công và ngài  bị nhà chúa nghi ngờ có mưu phản, âm mưu trốn ra Bắc theo họ Trịnh. Chúa Nguyễn Phúc Tần đã đem ngài tra khảo nhưng không tìm ra bằng chứng nên sau đó trục xuất khỏi kinh đô đưa về lại Thăng Hoa, Quảng Nam.
     Vì sự bạc đãi của chúa Nguyễn Phúc Tần, mặt khác lúc này ở Đàng Trong tình hình rất lộn xộn do sự khuynh loát của Tống Thị nên vào năm 1862, dù đã 55 tuổi, Thiền sư Hương Hải cùng hơn 50 đệ tử quyết đóng thuyền vượt biển ra Bắc. Khi đếnVinh (Nghệ An), ngài được Trấn thủ Nghệ An kiêm trấn thủ châu Bố Chính là Yến quận công Trịnh Điềm (Đặng Tiến Thự) (2) đón tiếp rất nồng hậu. Một tháng sau, sau khi đã điều tra kỹ, chúa Trịnh Căn cho Đường quận công đưa thuyền đón ngài và đoàn tùy tùng về Thăng Long, ban thưởng rất hậu. Sau 8 tháng ở trấn Sơn Tây, chúa Trịnh Căn  sai lập am Chuẩn Đề ở Sơn Nam cho ngài tu hành. Suốt 17 năm tại đây ngài chú tâm vào việc tu hành và sáng tác và đã để lại cho đời sau một sự nghiệp trước tác giá trị.
     Năm 1700, khi đã ngoài 70 tuổi, Thiền sư rời Sơn Nam về sáng lập và trụ trì ở chùa Nguyệt Đường thuộc huyện Kim Động, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên với mong muốn phục hồi Thiền phái Trúc Lâm đã có từ thời nhà Trần. Sáng ngày 13 tháng Năm năm Ất Mùi (1715) (3), tại chùa Nguyệt Đường sau khi tắm, ngài khoát y, đội mũ, đeo tràng hạt, ngồi kiết già và viên tịch, sau khi để lại một bài kệ nổi tiếng, hưởng thọ 88 tuổi. Đệ tử xây bảo tháp tại chùa để thờ ngài. Ngôi bảo tháp này hiện vẫn còn trong khu phế tích chùa Nguyệt Đường ở thị trấn Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên.
     Vua Lê, chúa Trịnh và cả chúa Nguyễn đều rất kính nể đạo hạnh và tài năng của ngài. Vua Lê Dụ Tông rất tôn kính ngài đã nhiều lần đón ngài về kinh để cầu an, thuyết pháp và hướng dẫn phương pháp tu đạo. Chúa Trịnh Cương cũng từng đến chùa Nguyệt Đường để thăm ngài, cúng dường và đề thơ ca ngợi.
     Thiền sư Hương Hải là  người am hiểu nhiều lĩnh vực: thơ, văn, quân sự, địa lý, triết học, y học, đã để lại nhiều tác phẩm nghiên cứu quan trọng.
     Về quân sự và địa lý có “Thuận Quảng nhị xứ sơn thủy lộ trình bản đồ” (bản đồ vẽ về sông núi đường đi của hai xứ Thuận, Quảng). Đây là tác phẩm quan trọng, ngài viết vào năm 1682, theo sự bắt buộc của chúa Trịnh Tạc, nhằm nắm tình hình xứ Đàng Trong. Đối với chúa Trịnh đây là những tài liệu quý hiếm. Theo Lê Quý Đôn thì khi tấm bản đồ được dâng lên chúa Trịnh: “nhà sư phân tích khúc chiết chỗ hiểm trở, chỗ bình dị, rất rõ ràng, được thưởng 20 quan tiền” (4). Đáng tiếc là tác phẩm này ngày nay đã bị thất lạc, chưa được tìm thấy.
     Ngoài tác phẩm “Quảng Nam Thuận Hóa sơn thủy lộ trình”, số tác phẩm còn lại của Minh Châu Hương Hải chủ yếu tập trung vào việc dịch giải các kinh điển Phật giáo ra tiếng Việt.
     Theo Thiền sư Lê Mạnh Thát, cứ vào chính “Hương Hải thiền sư ngữ lục” tờ 11b4, 12a7, thì Minh Châu Hương Hải đã chú giải các kinh bằng phương ngôn quốc ngữ gồm:
     - Giải Pháp hoa kinh 1 bộ
     - Giải Kim cương kinh lý nghĩa 2 đạo
     - Giải Sa di giới luật 1 quyển
     - Giải Phật tổ tam kinh 3 quyển
     - Giải Di Ðà kinh 1 quyển
     - Giải Vô lượng thọ kinh 1 quyển
     - Giải Ðịa tạng kinh 3 quyển
     - Giải Tâm kinh đại điên 1 quyển
     - Giải Tâm kinh ngũ chỉ 1 quyển
     - Giải Tâm châu nhất quán 1 quyển
     - Giải Chân tâm trực thuyết 1 quyển
     - Giải Pháp bảo đàn kinh 6 quyển
     - Giải Phổ khuyến tu hành 1 quyển
     - Giải Bảng điều 1 thiên
     - Soạn Cơ duyên vấn đáp tinh giải 1 quyển
     - Soạn Sự lý dung thông 1 quyển
     - Soạn Quán vô lượng thọ kinh quốc ngữ 1 quyển
     - Soạn Cúng Phật tam khoa (cát hung tiểu) 1 quyển
     - Soạn Cúng Dược sư 1 khoa
     - Soạn Cúng cửu phẩm 1 khoa
     Trong số 20 tác phẩm gồm 30 quyển này, hiện nay mới tìm được 4 tác phẩm gồm 5 cuốn. Qua 25 năm sưu tầm, Lê Mạnh Thát mới phát hiện 2 quyển Giải Kim ương kinh lý nghĩa, 1 quyển Giải Di Đà kinh, 1 quyển Giải Tâm kinh ngũ chỉ; 1 quyển Sự lý dung thông. Ông  đã tập hợp 5 cuốn này và cho xuất bản dưới nhan đề Minh Châu Hương Hải toàn tập (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000),  Lê Mạnh Thát gọi là Toàn tập vì theo ông không còn hi vọng tìm thêm 1 tác phẩm nào khác nữa. Lê Mạnh Thát còn cho biết “căn cứ vào lời tựa viết cho việc in lại Di Ðà Kinh thích giải và Bát nhã tâm kinh trích giải do Ðặng Hy Hiến chấp bút vào năm Minh Mạng 14 (1833) biết dưới tên Trùng San chư kinh tự thì ta thấy vào lần in này, ngoài Di Ðà Kinh Thích giải ta thấy còn kể tới Lương hoàng thủy sám, Dược sư kinh, Phổ môn và Kim Cang chú giải. Ðây là những bản kinh được viết bằng tiếng Việt, trong đó Kim Cang chú giải và Phổ môn chắc chắn là do Hương Hải dịch giải. Riêng Lương hoàng thủy sám và Dược sư kinh thì không được Hương Hải thiền sư ngữ lục ghi nhận vào số những tác phẩm của Minh Châu Hương Hải. Còn lại như vậy là các bài thơ và đoạn văn được in lại thành sách trong Hương Hải thiền sư ngữ lục và khắc bản vào năm Cảnh Hưng thứ 8, Ðinh Mão (1747).
    
Ðây là tác phẩm có lẽ dựa vào Soạn Cơ duyên vấn đáp tinh giải được ghi nhận là 1 trong 20 tác phẩm của Minh Châu Hương Hải. Và nó cũng là nguồn tư liệu để Lê Quý Ðôn sử dụng khi viết về con người và thơ văn Minh Châu Hương Hải trong Kiến văn tiểu lục 9 tờ 21b4 - 33a2 mục Thiền dật. Theo thống kê của chúng tôi thì Hương Hải thiền sư ngữ lục chứa đựng tổng cộng 59 bài thơ của Minh Châu Hương Hải, 2 bài thơ của Ðặng Ðình Tướng, tất cả đều bằng chữ Hán, cùng với 1 bài thơ của Trịnh Cương bằng tiếng Việt. Về văn có cả thảy 16 đoạn trích, thường được ghi là do tổ "nhàn đàm thị chúng". Chính từ số thơ và văn này, Lê Quý Ðôn đã chọn lại và trích vào trong Kiến văn tiểu lục của mình gồm 42 bài thơ và 12 đoạn văn”(5). Lê Mạnh Thát cũng cho biết trong số 42 bài thơ này chỉ có một phần là của ngài còn những bài khác là của các thiền sư Trung Hoa, ngài chỉ sử dụng để minh họa cho ý tưởng của mình mà thôi. Tuy nhiên, dù là thơ của ngài hoặc một số bài của người khác được ngài sử dụng thì cũng thể hiện tư tưởng của ngài vì “Thiền sư Hương Hải ít ưa lý luận về triết học. Ông chuyên hết tâm ý vào việc thiền quán và vào những phương pháp điều tâm, quán tâm, giải thoát cho tâm”. (6)
     Theo Nguyễn Lang (Thượng tọa Thích Nhất Hạnh) trong Việt Nam Phật giáo sử luận thì tư tưởng thiền của Hương Hải thiền sư có thể tóm tắt trong các nội dung sau:
     - Thứ nhất ngài xuất thân là một nhà Nho, có căn bản Nho học trước khi xuất gia, mặc dù vẫn đề cao Phật học hơn là Nho học, ngài vẫn chủ trương “Nho Phật nhất trí”. Nho giáo như là một nền học bổ túc được cho Phật giáo về phương diện trị thế:
     Nho nguyên đãng đãng đăng di khoát/Pháp hải trùng trùng nhập chuyển thâm (Lên tận nguồn Nho trông bát ngát//Vào sâu biển pháp thấy mênh mông).

     - Thứ hai là giải quyết mối quan hệ giữa Phật và chúng sanh, giữa mê và ngộ, giữa tâm và cảnh, giữa thiện và ác.
     + Về mối quan hệ giữa Phật và chúng sanh ngài cho rằng: Phật và chúng sanh cùng chung một thể tính, giác ngộ thì chứng nhập được vào thể tính ấy. Núi Phật mà bỏ chúng sanh thì không bao giờ có thể đạt được đạo.
     + Về mối quan hệ giữa mê và ngộ ngài cho rằng mê và ngộ có chung thể tính, nó dựa vào nhau để tồn tại. Ngài nói Chân và vọng vì đối đãi với nhau mà có. Nếu tìm chân mà bỏ vọng thì không khác gì người sợ bóng theo hình mà cứ chạy ngoài nắng. Nếu biết rõ vọng là chân thì cũng như đi vào nơi rợp, bóng tự khắc sẽ biến mất.
     + Về mối quan hệ giữa tâm và cảnh ngài cho rằng tâm và cảnh cùng  thể tính. Đối tượng và chủ thể của nhận thức nương nhau mà hiện hữu.
     + Về mối quan hệ giữa thiện và ác ngài cho rằng thiện và ác đều không có thực, nó từ tâm ta mà ra thôi.
     Từ trên cơ sở nhận thức các mối quan hệ trên, Thiền sư Hương Hải đã đưa ra các phương pháp sau:
     + Không trốn chạy sự vật. Theo ngài “Đối tượng của giác quan như âm thanh, hình sắc sở dĩ áp đảo được tâm ta vì tâm ta chưa quan sát và thấu đáo được bản chất của tâm cũng như những đối tượng ấy. Bản chất của tâm cũng như của sự vật là chân tâm - nghĩa là thực tại không sinh diệt, mà văn học Bát Nhã gọi là không. Nếu tâm đã về chân tâm thì cảnh cũng trở về chân cảnh: Không cần có sự chạy trốn mà giải thoát trở thành hiện thực”(7).
     + Giới luật cao nhất là sự vô tâm. Giữ được trạng thái vô tâm thì phiền não sẽ không có chỗ để nương tựa. Vô tâm vì thế sẽ là bí quyết của sự giác ngộ.
     + Thành Phật ngay trong giờ phút này. Ngài cho rằng: Mở mắt mà nhìn thực tại với cái tâm “vô tâm” (cái không) thì giây phút nào cũng là giây phút giác ngộ, nơi nào cũng là Phật. Ngài bảo: Mỗi giây phút trở về nghe ngóng tâm ta/Quan sát và tư duy cho cặn kẽ//Không cần đi tìm tri thức trong mộng/Sau này sẽ thấy mặt Phật trên mặt mình.
     Đúng như đánh giá của Thiền sư, Giáo sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát: “Thiền sư Minh Châu Hương Hải là một tác gia lớn không những của văn học và triết học Phật giáo Việt Nam, mà còn của văn học và lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung”.(8)
     Hai bài kệ và một bài thơ nổi tiếng của Thiền sư Hương Hải

     Bài 1. Thiền sư thường ngâm nga lúc cuối đời:

     Phiên âm Hán - Việt

     Thành thị du lai ngụ tự chiền

     Tùy cơ ứng biến mỗi thì nhiên

     Song chiêu nguyệt đáo thiền sàng mật

     Tùng tiếu phong xuy tĩnh khánh miên

     Sắc ánh lâu đài minh sắc diệu

     Thanh truyền chung cổ diễn thanh huyền

     Nguyên lai tam giáo đồng nhất thể

     Nhậm vận hà tằng lý hữu thiên.


     Dịch:

     Dạo chơi thành thị ngụ chùa chiền

     Ứng biến tùy cơ lẽ tự nhiên

     Cửa đón nguyệt vào giường được tĩnh

     Thông trêu gió thổi ngủ thêm yên

     Hình lâu đài rọi hình kinh sách

     Tiếng trống chuông vang tiếng diễn truyền

     Tam giáo từ xưa cùng một gốc

     Khi nào vận dụng lệch hay thiên.

    
     Bài 2. Tương truyền là đượcThiền sư sáng tác trước lúc viên tịch vào ngày 13/5 Ất Mùi, 1715)

     Phiên âm Hán - Việt:
     Thời đương bát thập bát

     Hốt nhiên đăng tọa thoát

     Hữu lai diệc hữu khứ

     Vô tử diệc vô hoạt

     Pháp tính đẳng hư không

     Sắc thân như bào mạt

     Đông độ ly ta bà

     Tây phương liên ngạc pháp


     Dịch:
     Tuổi đương tám mươi tám

     Tọa thoát tự nhiên bỗng

     Có đến cũng có đi

     Không chết cũng không sống

     Pháp tính giống hư không

     Sắc thân như bọt mọn

     Đông độ rời ta bà

     Tây phương đài sen đón

     Bài thơ sau đây được cho là của  thiền sư tặng cho Ðặng Ðình Tướng:
     Hướng minh qui mạng sự quân vương

     Yết kiến tôn công khánh thọ trường

     Tài dụng kinh luân kiêm đức hạnh

     Ân thi lễ nghĩa quí văn chương

     Ngoại trừ đạo tặc binh nhân ái

     Nội dưỡng trinh liêm sĩ tốt cường

     Quyền trấn nam giao danh tứ hải

     Khuông phò quốc chính lạc quần phương

    
     Dịch
     Vua sáng trở về giúp vận nên

     Tôn công thăm hỏi tuổi mừng thêm

     Kinh luân đức hạnh tài dùng đủ

     Lễ nghĩa văn chương ý đáp đền

     Ngoại trừ đạo tặc quân dân thích

     Trong dưỡng trinh liêm sĩ tốt bền

     Quyền trấn cõi nam tên bốn bể

     Khuông phò đất nước sướng muôn bên

   
Tháp và linh vị của Thiền sư Minh Châu - Hương Hải ở chùa Nguyệt Đường (Thị trấn Phố Hiến, Hưng Yên)
L.T

     Chú thích:
     (1) Theo Lê Quý Đôn trong “Kiến văn tiểu lục” thì Hương Hải thiền sư sinh năm Giáp Ngọ 1627 và mất ngày 12 tháng Năm năm 1715. Nhưng theo “Việt Nam Phật giáo sử luận” của Nguyễn Lang, Nxb Văn Học, Hà Nội năm 2000 thì ngài sinh năm 1628 và mất ngày 13 tháng Năm năm 1715.Chúng tôi theo Nguyễn Lang vì có sự lý giải khá chính xác của GS Nguyễn Huệ Chi.
     (2) Lê Quý Đôn trong “Kiến Văn tiểu lục” cho là Trịnh Na, Nguyễn Lang trong “Việt Nam Phật giáo sử luận” thì gọi là Trịnh Gia còn “Việt sử Thông giám cương mục” và Lê Mạnh Thát thì cho là Trịnh Điềm.
     (3) Lê Quý Đôn và Lê Mạnh Thát cho rằng ngài mất ngày 12 tháng Năm nhưng Nguyễn Lang lại cho là ngày 13 tháng Năm.
     (4) Lê Quý Đôn, “Kiến Văn tiểu lục”, trang 405
     (6,7) Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo sử luận, Nxb Văn Học, Hà Nội, năm 2000,  trang 547
     (5,8) “Minh Châu Hương Hải” (Toàn tập), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2000, trang 5.

 

 

L.T

Các tin khác:

CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ








Thông báo
















Thống kê truy cập

00006196858

Hôm nay: 1865
Hôm qua: 6974
Tháng này: 56165
Tháng trước: 99301
Năm này: 863816
Số người đang Online: 44