CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM (20/11)!
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Danh nhân Thăng Bình

Nguyễn Văn Trương (1740 - 1810)

Tác giả: Lê Thí Ngày đăng: 9:07 | 08/03/16 Lượt xem: 2246

Đoan Hùng quận công Nguyễn Văn Trương là người được triều Nguyễn phong là “Đệ Nhất ngũ hổ tướng Gia Định”, được triều đình, quân sĩ và nhân dân gọi bằng mĩ từ “ông phúc tướng”.

     Ông sinh năm 1740 tại xã An Lý, huyện Lễ Dương, nay là xã Bình Phú, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Lúc nhỏ nhà nghèo phải đi giữ trâu cho người khác nhưng thiên tư về quân sự bộc lộ rất sớm. Ông tập hợp bọn chăn trâu, tổ chức thành đội ngũ, bày trận đồ, tự xưng là đại tướng, chỉ huy bọn trẻ đánh nhau.
     Lớn lên vào Gia Định. Không rõ năm nào và vì sao ông vào Gia Định, chỉ biết khoảng năm Bính Thân (1776), khi Nguyễn Lữ (một trong ba thủ lĩnh của phong trào Tây Sơn) đem quân vào Nam, lấy được thành Sài Gòn, đuổi chúa Nguyễn Phúc Ánh chạy đến Trấn Biên (Biên Hòa), thì Nguyễn Văn Trương xin theo phò và được cho giữ chức Chưởng cơ cai quản binh thuyền. Ông được Nguyễn Lữ phân đóng giữ Long Xuyên, đã lập được nhiều chiến công, có lần ông truy đuổi Nguyễn Ánh chạy trối chết, may nhờ một cơn lốc, cây cối bị đổ, Nguyễn Ánh mới  thoát được.
     Nhận thấy sự chia rẽ của anh em nhà Tây Sơn, nghiệp lớn khó thành nên ông bỏ Nguyễn Lữ. Năm 1787, khi Nguyễn Ánh từ Xiêm (Thái Lan) về, ông đem 300 quân và 15 chiếc thuyền về hàng, được Nguyễn Ánh phong làm Khâm sai chưởng cơ, cai quản đạo tiên phong doanh thủy trung quân. Sau nhờ lập được nhiều chiến công được phong Khâm sai chưởng đạo tiền phong, Trung quân thủy dinh.Từ đây ông tham gia hàng trăm trận, trận nào cũng thắng lợi vẻ vang.Có thể kể một phần trong “nhật ký hành quân” của ông.
     - Tháng 8 năm Mậu Thân (7 tháng 9 năm 1788), Nguyễn Văn Trương cùng Lê Văn Quân, Tôn Thất Hội, Võ Tánh, Tô Văn Đoái, Hoàng Văn Khánh, Tống Phúc Ngoạn giúp Nguyễn Ánh lấy lại thành Gia Định.
     - Năm Kỷ Dậu (1789), cùng Tôn Thất Hội, Võ Tánh đánh tan đạo quân của Phạm Văn Sâm ở Hố Châu (Đồng Nai) buộc Phạm Văn sâm phải đầu hàng. Sau đó tiêu diệt toàn bộ dư đảng của Ốc Nha Ốc ở Ba Thắc (Sóc Trăng).
     - Năm Nhâm Tí (1792), nhân khi mùa gió Nam thổi mạnh, Nguyễn Văn Trương cùng Tiền quân Nguyễn Văn Thành, Dayot và Vannier (tên Việt là Nguyễn Văn Chấn) đem chiến thuyền từ cửa Cần Giờ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh) ra đốt phá thủy trại của Tây Sơn ở cửa Thị Nại (Qui Nhơn), rồi quay về an toàn.
     - Năm Quý Sửu (1793), cùng Võ Tánh dẫn  thủy quân còn Nguyễn Văn Thành, Tôn Thất Hội cùng Nguyễn Huỳnh Đức đem bộ binh đánh Phan Rí (Bình Thuận). Toàn thắng quân Nguyễn tiến đánh Diên Khánh, Nha Trang và Phú Yên. Sau đó tiến đánh Qui Nhơn. Tây Sơn đưa một lực lượng lớn đến cứu viện quân Nguyễn phải rút về Diên Khánh.
     - Năm Giáp Dần (1794) cùng Nguyễn Văn Thành đánh vào cửa biển Đại Cổ Lũy (Quảng Ngãi) cướp được rất nhiều binh thuyền, lương thực của Tây Sơn.
     - Năm Ất Mão (1795), chỉ huy tướng sĩ 3 doanh giải vây được cho thành Diên Khánh.
     - Năm Đinh Tỵ (1797) theo Nguyễn Ánh đánh Qui Nhơn, Phú Yên, Đà Nẵng, ra đến tận cửa biển Tư Hiền (Thừa Thiên) đánh vào đồn ở núi Phú Gia. Tất cả đều toàn thắng.
     - Năm Mậu Ngọ (1798), Nguyễn Văn Trương cùng Nguyễn Hoàng Đức đem quân sang Xiêm theo lời cầu viện của vua Xiêm để chống lại cuộc xâm lăng của người Miến Điện (Myanma). Quân Miến thua trận phải rút chạy.
     - Năm Kỷ Mùi (1799) đem quân đánh Quảng Ngãi đốt 5 sở đồn của Tây Sơn ở Sa Hoàng, Sa Kỳ, Mân Khê, Mỹ Ý, Thái Cần xong quay về hợp binh lấy lại Qui Nhơn rồi rút về đánh chiếm lại Diên Khánh.
     - Năm Canh Thân (1800), đánh tan quân Tây Sơn ở Vân Phong (Khánh Hòa), đèo Cù Mông (Phú Yên) của biển Đề Gi, thu được rất nhiều binh thuyền, khí giới, lương thực.
     Tháng Giêng năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Văn Trương, Tống Phước Lương, Lê Văn Duyệt, Võ Di Nguy đem quân vào đánh cửa Thị Nại. Đây là trận “thủy chiến” dữ dội nhất của hai phía Tây Sơn - Nguyễn Ánh. Phía Nguyễn Ánh chết 4000 quân trong đó có Thủy sư đô đốc Võ Di Nguy. Nhưng phía Tây Sơn thiệt hại hơn 20 000 quân, 1800 chiến thuyền và 800 đại bác.Công đầu trận này thuộc về Nguyễn Văn Trương.
     Sau chiến thắng vang dội ở cửa biển Thị Nại (Qui Nhơn) ông dẫn đại quân tiến ra cửa biển Cổ Lũy (Quảng Ngãi) rồi Đại Áp, Đại Chiêm (Quảng Nam). Quân ông đến đâu quân Tây Sơn tan vỡ đến đó, ông chiếm đồn ở Hội An, La Qua, Phú Chiêm, Đại đô đốc Nguyễn văn Xuân, cùng Trấn thủ Văn Tiến Thể của Tây Sơn bỏ chạy, quân ông thu được nhiều chiến lợi phẩm. Ông tiếp tục tiến ra Đà Nẵng, lấy đồn Hải Vân, chiếm cửa biển Tư Hiền, Thuận An và tiến chiếm Phú Xuân. Thừa thắng ông tiến quân ra sông Gianh chặn đường rút lui của Tây Sơn.
     Sau trận này, Nguyễn Ánh sai mang ấn và dây thao đại tướng  đến giữa trại quân trao cho Nguyễn Văn Trương và phong làm Khâm sai chưởng trung quân, Bình Tây đại tướng quân quận công.
     Nhưng trận thủy chiến thắng lợi trên  sông Nhật Lệ  mới là đóng góp lớn nhất của ông cho sự nghiệp của Nguyễn Ánh. Năm 1802, vua Cảnh Thịnh sai em là Nguyễn Quang Thùy trấn giữ Nghệ An, còn tự mình cầm quân định chiếm lại Phú Xuân. Đây là trận đánh có ý nghĩa quyết định cho cuộc chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh.
     Hai bên chạm nhau ở Trấn Ninh. Đánh từ sáng đến chiều quân Tây Sơn vẫn không tiến lên được. Thấy thế trận ngày càng khốc liệt bất phân thắng bại, Bùi Thị Xuân cưỡi voi liều chết đánh riết vào lũy Trấn Ninh, nơi Nguyễn Phúc Ánh đang cố thủ. Bà xua quân xung trận, tự tay thúc trống liên hồi. Quân của Nguyễn Ánh đã giao động định vượt sông Gianh mở đường máu thoát thân. Lúc quân Tây Sơn đang ở thế thắng thì thủy quân của Nguyễn Ánh do Nguyễn Văn Trương chỉ huy đánh tan thủy quân Tây Sơn ở cửa biển Nhật Lệ tràn lên tiếp cứu. Bộ binh Tây Sơn tan vỡ. Quang Toản rút chạy, Bùi Thị Xuân buộc lòng phải phò vua ra Bắc. Từ đó quân Tây Sơn trượt dài trong thất bại.
     Trong chiến dịch đánh Thăng Long, Nguyễn Văn Trương chỉ huy thủy quân tiến chiếm cửa Giồn (Hà Tĩnh), cửa Hội (Nghệ An), chiếm vùng Sơn Nam Hạ rồi tiến vào Thăng Long.
     Trong suốt cuộc chiến, tham gia hàng trăm trận đánh, nhưng chưa trận nào ông bị thua. Đại Nam liệt truyện chỉ nói đến một trận thua duy nhất của quân ông vào năm 1801 ở núi Thần Đâu nhưng lại  do viên phó tướng  chỉ huy và vì không tuân theo chỉ dẫn của ông.
     Năm 1803, Gia Long vi hành ra Thăng Long, Nguyễn Văn Trương theo phò. Khi Nguyễn Văn Thành được cử đi kinh lý các tỉnh, Nguyễn Văn Trương được cử làm quyền Tổng trấn Bắc Thành (1803-1804), sau đó về Kinh cùng Lê Chất lo việc xây đắp kinh thành Huế. Năm sau được cử vào Nam làm Lưu trấn Gia Định (1805-1808).
     Là tướng tài, lập nhiều công nhưng Nguyễn Văn Trương lại rất khiêm tốn, nhân hậu và không ham danh vọng. Khi làm tướng Tây Sơn, quân Nguyễn Ánh bị thua, lội qua sông chạy trốn. Quân Tây Sơn truy đuổi. Nguyễn Văn Trương ngăn lại bảo: “Nhân lúc nguy của người mà đâm, không phải là kẻ mạnh”, nhờ vậy nhiều người thoát chết. Sau này làm tướng của Nguyễn Ánh ông đều xử sự như vậy với quân Tây Sơn. Khi làm quyền Tổng Trấn Bắc Thành, một năm lụt lội dân bị đói. Ông tự ý mở kho phát chẩn. Vì việc này ông bị quở trách. Khi làm Lưu trấn Gia Định, quyền sinh sát trong tay nhưng bao giờ ông cũng châm chước công tội, thấu tình đạt lí, tâu về triều chờ lệnh chứ không tự ý quyết đoán. Năm 1803 bắt đầu thời kì bình xét công trạng, ông lại dâng sớ xin về hưu.
     Người đương thời gọi ông là “phúc tướng”. Gia Long từng nói “Làm tướng mà nhân hậu như Trương xưa nay hiếm”.
    
Ông mất năm 1810, thọ 70 tuổi. Nhà vua  ban  quan tài bằng gỗ giáng hương, cấp 1.000 quan tiền để lo ma chay, lại sai phó tướng Hoàng Văn Điểm, tham tri Ngô Nhân Tĩnh trông coi việc tang. Ngày an táng, đích thân nhà vua ngự thuyền rồng trên sông Hương đi đưa. Sai các quan đến dự lễ tế, cấp phu trông coi phần mộ.
     Năm Gia Long thứ 14 (1815), ông được thờ ở miếu Trung Hưng công thần. Năm Gia Long thứ 16 (1817), nhà vua sai Thượng thư bộ Lễ Phạm Đăng Hưng vinh danh ông trong danh sách công thần Vọng Các. Năm Minh Mạng thứ 5 (1824), được thờ ở Thế Miếu, cấp thêm ruộng tự điền. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), được  truy phong Tá vận công thần,  Đặc tiến Tráng vũ đại tướng quân, Trung quân Đô Thống phủ chưởng phủ sự, hàm Thái bảo, đổi tên thụy là Chiêu Vũ, phong Đoan Hùng quận công. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835) được thờ ở Võ Miếu.
     Con cháu của Nguyễn Văn Trương tất cả đều thành danh.
     Con  thứ là Nguyễn Văn Vân được phong Phó tướng Trung quân, làm quan đến Đô thống chế. Khi chết được ban chức Chưởng doanh, tên thụy là Tráng Nghị, thờ trong đền Trung Nghĩa.
     Con út là Nguyễn Văn Ngoạn, được Gia Long chọn làm phò mã, gã công chúa đầu là Bình Thái, làm quan đến Khâm sai, thống chế,  Đốc trấn Thanh Hóa.
     Cháu đích tôn là Nguyễn Văn Minh làm Cai đội. Cháu nội là Nguyễn Văn Thuận làm Quản cơ Vĩnh Bảo, khi chết được phong Phó vệ úy, thờ ở đền Trung Nghĩa.
     Các chắt của ông có Nguyễn Văn Lược làm Vệ úy hậu vệ doanh tiền phong, tước Đoan Hùng tử; Nguyễn Văn Duật lấy công chúa thứ 46 của Minh Mạng, làm Phò mã đô úy.
     Đại Nam Liệt truyện của sử quán triều Nguyễn dành gần nửa quyển 8 để viết về ông, trong đó có đoạn “Trương tính tình nhân hậu không muốn giết người, trước là tướng cho giặc, quân ta đánh nhau với hắn bị thua, lội qua sông chạy, giặc xúm lại đâm, Trương ngăn lại bảo: Nhân lúc nguy của người mà đâm, không phải là mạnh, giặc mới thôi. Thế tổ từng khen rằng: Làm tướng có lòng nhân như Trương là ít lắm. Đến khi theo hàng thường dựng công lớn, đời khen là phúc tướng. Lại biết giữ pháp độ cẩn thận, không đem công nghiệp tự khoe, cho nên tuy là xuất thân là hàng tướng mà trước sau được vua yêu mến, ít người theo kịp. Vợ của Trương cũng được gọi là phu nhân”. Tại tiền hiền làng Hà Lam (thị trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình) hiện còn lưu giữ tấm bia ghi công trạng của ông.

Bia Nguyễn Văn Trương tại tiền hiền làng Hà Lam
(thị trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình)
L.T

                                                            

     Chú thích:
     (1). Đại Nam liệt truyện, Quyển số 8, Nxb Giáo Dục, trang 161

L.T

Các tin khác:

CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ








Thông báo
















Thống kê truy cập

00006206042

Hôm nay: 13
Hôm qua: 3753
Tháng này: 65349
Tháng trước: 99301
Năm này: 873000
Số người đang Online: 55