NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM MUÔN NĂM!
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Danh nhân Thăng Bình

Nguyễn Duật (1847 - 1886)

Tác giả: Võ Văn Hoàng Ngày đăng: 9:05 | 08/03/16 Lượt xem: 1839

     Thân thế
     Nguyễn Duật sinh ra trong một gia đình gia giáo, ông là con trai thứ ba trong gia đình có chín người con. Cha của ông là cụ Nguyễn Đạo đã hai lần thi Tú tài vào năm Minh Mạng thứ 9 (1828) và Minh Mạng thứ 15 (1834), được bổ làm Tham Tá Bổn Phủ. Nhưng cụ được “đình giam thủ hiếu” (ở nhà phụng dưỡng mẹ già), không ra làm quan mà chỉ dạy học cho con cháu trong làng, do đó cụ được người dân gọi là ông Đồ Văn. Khi Hà Đình Nguyễn Thuật - con trai thứ hai của cụ - làm Thượng thư Bộ Lại về làm “lễ phần huỳnh”1 tại quê nhà, cụ Nguyễn Đạo được vua ban tặng là “Phụng Nghị Đại Phu Đô Sát Viện, Hữu Phó Đô Ngự Sử Thụy Trang Khải”.
     Mẹ ông là bà Võ Thị Kẻ - vợ thứ của cụ Nguyễn Đạo. Bà được truyền tụng là người phụ nữ hiền lành, nết na, thùy mị, hết sức đảm đang. Bà vợ lớn của cụ Nguyễn Đạo không may mất sớm, bà một mình quản lý gia đình, thương yêu, chăm sóc chồng con. Đối với họ hàng, thân tộc, hàng xóm láng giềng, kể cả những người làm trong gia đình,… bà lúc nào cũng luôn tỏ ra đôn hậu, không mất lòng ai.
     Nguyễn Duật có hai người anh làm quan trong triều đình nhà Nguyễn là Nguyễn Tạo và Nguyễn Thuật. Ông Nguyễn Tạo (1822 - 1892) tự là Thăng Chi, làm quan đến chức Chánh Sơn phòng sứ Quảng Nam, sau làm Giáo thụ Thăng Bình, rồi lại quyền Đốc học, khi chết được truy thụ Hàn lâm viện Thị giảng; ông Nguyễn Thuật (1842 - 1911) tự là Hà Đình - Phó bảng xuất thân, hàm Thái tử Thiếu bảo Hiệp biện Đại học sĩ, quản lãnh Lại bộ Thượng thư, Sung Cơ mật viện đại thần, kinh giêng Giảng quan Tổng tài Quốc sử quán, Đông cát Đại học sĩ, tước An Tường Tử.
     Tham gia Nghĩa hội Quảng Nam

     Thiếu thời, Nguyễn Duật là người con ngoan, chăm học và học giỏi, ông rất hiếu thảo với cha mẹ và ưa thích hoạt động. Năm ông 12 tuổi (1858) thì liên quân Pháp và Tây Ban Nha mượn cớ triều đình nhà Nguyễn tàn sát đạo Thiên chúa đã nổ súng tấn công xâm lược Đà Nẵng, gây bao đau thương tang tóc trên quê hương ông. Nguyễn Duật vốn là con người hiếu động, lại nhìn thấy tinh thần quật khởi của quân và dân ta dưới sự chỉ huy của Lê Đình Lý, Nguyễn Tri Phương,… để bảo vệ Đà Nẵng, bảo vệ Quảng Nam. Từ đó ông càng ra sức học tập văn và thao luyện võ nghệ để chờ ngày tham gia chiến đấu chống lại quân xâm lược, bảo vệ quê hương.
     Năm 28 tuổi (1875), ông thi đỗ Tú tài. Trong khoa thi năm Kỷ Mão, Tự Đức năm thứ 32 (1879), ông thi Hương và đỗ Cử nhân văn. Cũng năm này ông thi vào trường võ và đỗ Cử nhân võ và được triều đình Huế bổ chức Lãnh binh. Ông là người văn võ toàn tài, lại có hai người anh ruột là Nguyễn Tạo (1822 - 1892) và Nguyễn Thuật (1842 - 1911) đang làm quan trong triều Nguyễn nhưng ông lại xin khất lưu, không ra làm quan mà ở nhà phụng dưỡng cha mẹ già, cùng phụ thân dạy chữ nghĩa và võ nghệ cho con cháu trong làng.
     Ngày 19.5.1883, Thiếu tá Henri Rivère (thực dân Pháp) - Án ngữ thành Hà Nội, bị Lưu Vĩnh Phúc - quân Cờ đen giết chết ở ô Cầu Giấy đã gây thêm một mối thù giữa nước Pháp và Việt Nam. Mượn lý do đó, Chính phủ Pháp quyết tâm chinh phục Việt Nam. Trong bài diễn văn đọc tại Hạ nghị viện Pháp vào ngày 10.7.1883, Challemel Lacour - Ngoại giao Tổng trưởng Pháp đã phát biểu: “Trước kia cũng tưởng cử đặc biệt ủy viên sang để nhắc cho vua Tự Đức thi hành Hiệp ước 1874. Nhưng nay quân Cờ đen đã rõ rệt là quân của vua Tự Đức; vua Tự Đức là kẻ thù của nước Pháp. Ủy viên ấy đã phải gọi về và nay phải giải quyết việc ở Viễn đông bằng chiến tranh. Sẽ có một người am hiểu xứ Bắc kỳ đứng chỉ huy: người ấy được cử làm Chánh phủ Ủy viên và đã tiếp các mệnh lệnh của Chánh phủ”.2
     Ngày 16.8.1883, hải quân Pháp do Thủy sư Đô đốc Courbet chỉ huy tới Đà Nẵng. Hải đội gồm hai thiết giáp hạm mang tên: Bayard và Atalante; một vận tải mang tên Annamite; hai tuần dương hạm mang tên Drace và Chateau Renaud; hai pháo thuyền mang tên Viepère và Lynx.
     Sau đó, hải đội của Pháp tới cửa biển Thuận An (Huế), Courbet liền phái một sĩ quan đáp thuyền nhỏ đưa tối hậu thư cho Chính phủ Nam triều hẹn đến chiều ngày 18.8.1883 nếu không giao nộp các pháo đài ở cửa Thuận An thì chúng sẽ khai chiến. Trước tình hình đó, Tôn Thất Thuyết cùng con trai là Tôn Thất Đảm đốc thúc đại quân chuẩn bị khí giới chuẩn bị cho cuộc đại chiến. Tuy nhiên, do vũ khí của Pháp tối tân, còn vũ khí của quân triều đình thô sơ, cho dù đã cố gắng chiến đấu nhưng quân triều đình vẫn bị thua và phải ký hiệp ước đầu hàng quân Pháp.
     Hai năm sau (1885), lúc Nguyễn Duật ra kinh đô Huế dự kỳ thi Hội thì gặp cuộc binh biến do Tôn Thất Thuyết chủ xướng. Vào giữa đêm ngày mùng 4, rạng sáng ngày mùng 5.7.1885, các vị đại thần, đứng đầu là Tôn Thất Thuyết đã thực hiện một quyết sách táo bạo là đánh thẳng vào đồn Mang Cá và Tòa Khâm sứ do quân Pháp đóng để quyết chiến vì không cam chịu cảnh nô lệ, lệ thuộc với thực dân. Trận tập kích vào đồn Mang Cá đã bất thành do vũ khí thô sơ, quân lính chưa quen chinh chiến.
     Ngay sau vụ binh biến thất bại, lại bị quân Pháp phản công, Tôn Thất Thuyết hạ lệnh tập hợp tàn quân chực sẵn ở cửa Chương Đức, vào đưa vua Hàm Nghi và tam cung chạy khỏi kinh thành Huế ra căn cứ Tân Sở lánh nạn.3 Lúc này, bà Từ Dũ - mẹ vua Tự Đức và đám tòng vong ngỏ ý với Tôn Thất Thuyết nên đưa vua Hàm Nghi về lại kinh thành Huế và thừa nhận điều ước Bảo hộ năm 1884 để được yên thân. Nhưng Tôn Thất Thuyết đã kiên quyết: “Về Huế là bước chân vào nhà ngục mà người cầm chìa khóa là quân Pháp; thừa nhận hiệp ước là bán đứt quyền độc lập của nước Việt Nam. Là người, đành rằng ai cũng muốn an hưởng thái bình, nhưng nếu không lo khôi phục chuyến này thì Thuyết sẽ mang tiếng là đã bỏ mất giang sơn của tiên triều gây dựng mà còn đắc tội với hậu thế. Thà làm viên ngọc nát còn hơn làm tấm ngói toàn vẹn”.4 Và đây cũng là những bước đầu tiên của phong trào Cần Vương khi vua Hàm Nghi lên Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị), rồi xuống Dụ Cần vương vào ngày 2 tháng 6 năm Ất Dậu (nhằm ngày 13.7.1885), kêu gọi văn hào, sĩ phu cả nước đứng lên chống Tây dương xâm lược.
     Từ khi Dụ Cần vương được ban ra, nhân dân ta ở khắp các tỉnh miền Trung, nhất là bà con miền núi ở Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh,… đã nhất tề cùng các sĩ phu, văn thân đứng lên phò vua chống giặc xâm lăng. Trong Dậu Tuất niên gian phong hỏa ký sự cho biết:
     Văn thân thấy dụ vui mừng,

     Mật tờ truyền thẻ lẫy lừng bốn phương
5
     Trước khí thế của giới sĩ phu, của những người yêu nước đứng ra thành lập nghĩa hội Cần vương ở khắp mọi nơi thì lúc này Quảng Nam là một trong những địa phương ở khu vực miền Trung có phong trào diễn ra sôi động nhất, cả tỉnh hừng hực khí thế quần chúng, tất cả như cuốn vào một dòng thác. Bởi họ nghĩ rằng, cơ nghiệp tổ tiên bao đời gầy dựng mà nay bị giặc ngoại xâm chà đạp lên cương thường đạo lý. Trong Hịch Văn thân Quảng Nam câu 18a-b cho biết:
     Tủi cơ nghiệp của thần tôn thánh tổ, lúc trung hưng, khi sáng nghiệp, xưa gian truân mới có cõi bờ đây;

     Nay thương dân nơi xích huyện thần châu, đạo đã lấn, Mọi lại giành, cương luân hãm đâu còn trời đất cũ
.6
     Còn Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng trong Kính cáo đồng bào phụ lão kháng chiến thư cho biết rằng:
     Nghĩa hội mọc lên như cây rừng

     Quân hịch truyền đi như gió thét

     Kẻ thì như Khổng Minh đánh giặc Ngô Ngụy

     Người thì như Trương Tuần giữ đất Thư Dương

     Kẻ thì phục thù Hàn mà quyết tử một dùi Bác Lãng

     Người thì trả ơn Sở mà bảy ngày nhỏ lệ trước sân Tần

     Mười năm kháng chiến, đồn Vụ Quang nức tiếng gần xa

     Trăm trận tung hoành, trại Yên Thế lừng danh muôn thuở
.7
     Phong trào Nghĩa hội lúc bấy giờ dường như tập hợp được mọi thành phần của xã hội, từ nơi thị tứ, tỉnh thành đến chốn làng xóm thôn quê, đâu đâu mọi người cũng phấn khởi tham gia Nghĩa hội, tổ chức canh gác, nhóm quân luyện tập, treo cờ xí khắp các phủ huyện.
*
*      *
     Ngay khi cuộc binh biến do Tôn Thất Thuyết chủ xướng diễn ra, Nguyễn Duật từ kinh thành Huế trở về quê hương và ông đã hưởng ứng Dụ Cần vương của vua Hàm Nghi. Tại Quảng Nam, vào tháng 9.1885, Sơn phòng sứ - Tiến sĩ Trần Văn Dư (1839 - 1885) đã ra bức thông điệp thống thiết kêu gọi: “Các sĩ phu, thứ dân toàn hạt, không kể quan, quân, sĩ, thứ, ai có lòng thù giặc, xuất gia đầu quân, xuất quỹ nuôi quân, lập trường luyện võ, nhất nhất mưu đồ khởi nghĩa để đánh đuổi quân thù, giành lại quyền lợi cho thứ dân, tôn phò xã tắc lâu dài”.8 Nguyễn Duật hưởng ứng Dụ Cần vương, ông cùng với Trần Văn Dư tổ chức lực lượng Nghĩa hội Quảng Nam chống Pháp và được cử giữ chức Tán tương Quân vụ phụ trách khu vực Thăng Bình, Quế Sơn. Trong Gia phả cụ Nguyễn Duật do ông Nguyễn Công Xuân (cháu nội của cụ Nguyễn Duật) ghi chép vào ngày 6.6.1985 đã căn cứ vào lời kể của ông Nguyễn Điệp (con cụ Tiểu La Nguyễn Thành), bà Phan Thị Hòa (vợ cụ Nguyễn Duật), bà Nguyễn Thị Két, Nguyễn Thị Điểu, ông Nguyễn Công Khách (con cụ Nguyễn Duật) cho biết, cụ Nguyễn Duật đã chiêu mộ nghĩa quân ở hai huyện Thăng Bình và Quế Sơn, thành lập các chi đội, ra sức rèn luyện quân sĩ chờ ngày tham gia chiến đấu. Đội quân của ông lúc đầu được vài chục người là họ hàng thân thích, vừa luyện tập vừa chiêu mộ thêm quân số. Thời gian sau, quân của ông lên đến hai trăm rồi ba trăm người. Đội quân ấy sống trong lòng dân với một tinh thần hăng say chống quân xâm lược, là con em của nhân dân Thăng Bình và Quế Sơn nên họ được nuôi dưỡng, đùm bọc, che chở. Cũng lúc này ông bố trí cho vợ của ông là Phan Thị Hòa ở lại gia đình bên cạnh chợ Hà Lam thành lập một kho muối ở sau vườn nhà để thu mua lương thực, thực phẩm và nhu yếu phẩm như dầu, đèn, kim, chỉ,… cần dùng cho nghĩa quân, cứ độ nửa tháng thì nghĩa quân về gánh lên căn cứ một lần.
     Sau khi thành lập Nghĩa hội Cần vương Quảng Nam, đội quân của ông được rèn luyện vững vàng. Ông được lệnh của Hội chủ Trần Văn Dư đưa quân đánh vào thành tỉnh Quảng Nam tại làng La Qua (Điện Bàn) và đã chiến thắng, chiếm được thành tỉnh Quảng Nam, thu nhiều vũ khí và quân phục. Một thời gian sau, theo kế hoạch chung, để đề phòng bị quân triều đình có sự hỗ trợ của thực dân Pháp phản kích, ông lại đưa quân trở về căn cứ sơn phòng Dương Yên ở Trà My. Tại đây ông tiếp tục chiêu mộ nghĩa binh, củng cố lực lượng, tiếp tục rèn luyện quân sĩ.
     Lúc này, để củng cố tinh thần cho nghĩa binh, bản thân ông cùng quân sĩ phát động sáng tác ca dao, hò vè để anh em ngân nga, ca hát hoặc hát hò đối đáp với nhau cho vơi nỗi nhớ quê nhà. Ví dụ một số câu như:
     Ngó lên Hòn Kẽm đá dừng

     Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi (?).

     Hoặc:
     Thương cha nhớ mẹ thì về

     Nhược bằng thương cảnh nhớ quê thì đừng (?).

     Có thể nói, những câu hò, câu hát như vậy phần nào đã động viên khích lệ tinh thần nghĩa binh hăng say công tác, rèn luyện và chiến đấu.9
     Tháng 11 năm Ất Dậu (12.1885), quân Pháp tiến lên làng Dương Hòa thuộc phủ Thăng Bình, phá sơn phòng Quảng Nam. Hội chủ Trần Văn Dư lánh vào trong dân chúng nhưng bị truy lùng ráo riết, túng thế ông tìm đến nơi hành dịch của Án sát Lê Văn Đạo, lúc ấy đang theo quân Pháp mở cuộc hành quân, giả vờ thông báo Nghĩa hội sẽ “giải giáp quy điền” và yêu cầu tỉnh thông báo với triều đình Huế ông sẽ về để thương thảo? Nhưng ông bị Tuần vũ Châu Đình Kế mách với viên chỉ huy của Pháp đang có mặt trong thành tỉnh nên Trần Văn Dư bị bắt và bị bắn ngay ở góc thành tỉnh Quảng Nam. Đó là ngày 8 tháng 11 năm Ất Dậu (nhằm ngày 13.12.1885).
     Sau khi Hội chủ Trần Văn Dư bị sát hại, Nguyễn Duật tiếp tục tham gia Nghĩa hội cùng Nguyễn Duy Hiệu và Phan Bá Phiến. Lúc này Nguyễn Duy Hiệu được tôn làm Hội chủ, Phan Bá Phiến làm Phó Hội chủ, còn ông là một trong những tướng lĩnh chủ chốt của nghĩa hội. Trong Việt Nam vong quốc sử, cụ Phan Bội Châu nhận xét về tài lãnh đạo thao lược của Nguyễn Duy Hiệu và Phan Bá Phiến như sau:“Hai ông đều quê ở Quảng Nam, làm quan nhưng không phụ trách việc gì quan trọng. Khởi nghĩa kháng Pháp ba năm liền huyết chiến mà địch quân không làm gì nổi”.10
     Dưới sự dẫn dắt của Nguyễn Duy Hiệu, để mở rộng địa bàn hoạt động, Nguyễn Duật đã dẫn quân tham gia chiến đấu ở khắp nơi trong tỉnh Quảng Nam, khi thì ở phía Bắc, lúc thì ở phía Nam,… Trên mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng, nghĩa quân Thăng Bình, Quế Sơn do ông chỉ huy đã đánh thắng nhiều trận, gây cho địch nỗi hoang mang lo sợ. Trước những thắng lợi đó, nhân dân trong vùng ngày càng phấn khởi và tin tưởng vào phong trào nghĩa hội, họ ra sức giúp đỡ nghĩa quân, làm cho nghĩa quân ngày càng trưởng thành và lớn mạnh hơn. Mỗi khi nghĩa quân do Nguyễn Duật lãnh đạo trở về quê thì khống chế chính quyền và quân triều đình trên địa bàn hai huyện (Thăng Bình, Quế Sơn) từ vùng núi trung du xuống tận đồng bằng ven biển, nơi đâu nghe tin quân nghĩa hội đến kẻ địch cũng đều run sợ.
     Cuối năm 1885, các phong trào Nghĩa hội ở Quảng Ngãi và Bình Định bị Nguyễn Thân - người quê làng Thạch Trụ, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi đưa quân đánh phá ác liệt, làm các phong trào có nguy cơ bị tiêu diệt. Trước đây Thân từng có tên trong tổ chức nghĩa hội, nhưng sau đó phản bội Nghĩa hội và ra đầu thú với Pháp và trở thành một trong những tên tay sai đắc lực nhất cho Pháp.
     Trước tình hình đó, để có sự liên lạc hỗ trợ lẫn nhau, Nghĩa hội Quảng Nam đã cử Tán tương Quân vụ Quảng Nam Nguyễn Duật cầm đầu một trong năm cánh quân của Nghĩa hội Quảng Nam tiến đánh từ phía bắc Quảng Ngãi trở vào, phối hợp với ba cánh quân của Nghĩa hội Quảng Ngãi - Bình Định do Mai Xuân Thưởng (1860 - 1887) người thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tuy Viễn (nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) và Lê Trung Đình (1863 [có tài liệu chép năm 1857] - 1885) người làng Phú Nhơn, huyện Bình Sơn (nay là phường Trương Quang Trọng, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi) chỉ huy đánh từ phía nam Quảng Ngãi trở ra. Lần đầu tiên tấn công vào huyện lỵ Bình Sơn (tỉnh Quảng Ngãi), nghĩa quân Quảng Nam đã giành thắng lợi, làm chủ tình hình huyện Bình Sơn, những quan lại của chính phủ Nam triều tại phủ lỵ Bình Sơn như: Lê Uyển bỏ chạy, Nguyễn Tiến Quý, Phạm Trọng Di bị nghĩa quân đánh bại, quan quân triều đình tại Bình Sơn hoàn toàn tan rã. Vì vậy đã củng cố được căn cứ hậu phương cho Nghĩa hội Quảng Ngãi - Bình Định. Đây là lần đầu tiên kể từ khi thành lập, Nghĩa hội Cần vương của ba tỉnh đã liên kết hỗ trợ nhau và giành thắng lợi. Sau trận thắng lợi ở Bình Sơn, nghĩa quân Nam - Ngãi (Quảng Nam - Quảng Ngãi) liên thông được với nhau.
     Chiến thắng của nghĩa hội tại phủ lỵ Bình Sơn đã làm cho Nguyễn Thân hết sức lo âu. Vì vậy, Nguyễn Thân đã yêu cầu Khâm sứ Pháp tại Huế cung cấp vũ khí, đạn dược để chi viện. Mặt khác Nguyễn Thân trực tiếp chỉ huy, kéo toàn bộ quân triều đình tại Quảng Ngãi ra đánh chiếm lại Bình Sơn.
     Sau một thời gian dài chiến đấu, nghĩa quân Quảng Nam đã hao hụt nhiều về người, nhất là sức khỏe. Trong khi đó quân của Nguyễn Thân vốn được huấn luyện bài bản, quen tác chiến, lại được trang bị vũ khí đạn dược tối tân của thực dân Pháp, cuối cùng chúng đã đánh lui nghĩa quân Quảng Nam. Để bảo toàn lực lượng, năm đạo quân của Quảng Nam được lệnh rút về. Đội quân của cụ Nguyễn Duật đi chặn hậu, khi ra đến Cầu Cháy (thuộc huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) thì bị quân của Nguyễn Thân phục kích, đổ ra đánh giáp lá cà. Trong lúc hỗn quân, ông bị lính địch dùng câu liêm dứt đứt đầu và đã hi sinh tại chiến địa vào chiều ngày mùng 5 tháng 7 năm Bính Tuất (1886), lúc bấy giờ ông mới 39 tuổi. Trong lúc đó có hai nghĩa quân thân tín là Nguyễn Công Khả (em nuôi của ông) - người làng Túy Loan (Hòa Vang) và Nguyễn Quân (Tràm Cò) - người làng Đồng Thái, liều chết phá vòng vây cướp xác ông đưa về an táng ở quê nhà Hà Lam. Hiện nay mộ ông tọa lạc ở phía Tây rừng Tiên Nông, thị trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
     Tin ông hi sinh tại chiến trường Bình Sơn bay về đến căn cứ, Hội chủ Nguyễn Duy Hiệu và Hội phó Phan Bá Phiến vô cùng thương tiếc người đồng chí, người em, người tướng tài của mình đã có câu đối khóc ông:
     Phiên âm:
     “Nhị huynh tại nhi văn chi quân dĩ đương trường dư chính khí
     Tam quân hành tắc thủy dữ ngã ư che khổn phạp lương tài”.
     Bản dịch:
     Hai anh còn đây, tin ông chiến đấu ở chiến trường thừa chính khí

     Ba quân còn đó, không có ông chỉ huy ta mất một tướng tài.

     Về cái chết của Nguyễn Duật được ông Nguyễn Công Xuân đề cập đến trong Gia phả như những điềm đã được báo trước về “việc không lành” trong chuyến hành quân vào Quảng Ngãi thông qua lời kể của gia đình và người dân địa phương như sau:
     Khi cụ Nguyễn Duật đưa quân Thăng Bình, Quế Sơn đi chiến đấu ở Quảng Ngãi vào mùa xuân năm Bính Tuất, giáp Tết Nguyên đán. Khi đoàn quân qua làng Hà Lam là chiều 30 Tết. Ông cho đơn vị nghỉ lại ăn Tết đến sáng mồng hai lên đường. Khi ra hội quân để lên đường, ông lên võng thì bị gãy võng, ông đổi sang đi ngựa thì ngựa cứ dậm chân hí vang không chịu bước. Tất cả những người ra tiễn quân hôm ấy rất ái ngại, nhất là bà con, anh, chị, em ruột đã trao đổi với ông: “Nên nghỉ lại vài hôm rồi sẽ đi!”. Đặc biệt trong số đó có bà Nguyễn Thị Phát là em ruột của ông, người thường ngày ông rất thương yêu, nói với ông rằng: “Công việc đất nước anh ra đi đánh giặc là đúng. Các em mong muốn anh làm rạng danh cho tổ tiên, dòng họ. Nhưng hiện tại có điềm quái gỡ, không lành, võng gãy, ngựa không đi. Các em muốn anh nghỉ lại một hôm, ngày mai lên đường cũng chưa muộn”.
     Ông Cử nói: “Tình cảm gia đình thì các chú, các cô thương lo cho tôi như vậy tôi rất cám ơn. Nhưng đất nước đang đứng trước họa xâm lăng, bọn tay sai đang can tâm bán nước thì chí làm trai không thể đứng nhìn khi đất nước lâm nguy. Tôi đi chiến đấu cho quốc gia, dân tộc, nếu vì điều nhỏ mọn không đáng kể đó mà ngần ngại không ra đi thì sĩ khí của nghĩa quân sẽ mất lòng tin vào người tướng lĩnh cầm quân ra trận; và như thế sẽ không giành thắng lợi trong chiến đấu. Do đó, dù thân tôi có da ngựa bọc thây nơi chiến địa cũng là điều vinh quang cho gia đình ta, các cô các chú nên biết điều đó. Khi người tướng cầm quân ra trận là hùng khí phải xông lên, phải vượt qua các vật cản ngựa, tình nghĩa anh em, các cô, các chú trở về gia đình để tôi lên đường”. Những người thân và bà con ra tiễn chân hôm đó ngậm ngùi gạt nước mắt chào ông ra trận.
*
*     *
     Sau khi ông mất, quân triều đình có sự hỗ trợ của thực dân Pháp, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Thân đã truy kích nghĩa hội, chúng đến Hà Lam truy bắt gia đình ông và đốt kho muối, chúng còn đốt dinh chợ Hà Lam, đốt nhà thờ tộc Nguyễn Công. Lúc bấy giờ gia đình Nguyễn Duật được sự giúp đỡ của nghĩa quân tân tỉnh, bà Phan Thị Hòa (vợ ông) đã đưa được gia đình và các con là Nguyễn Thị Két, Nguyễn Thị Điểu, Nguyễn Công Khách (lúc này mới 6 tuổi) lên căn cứ tân tỉnh ở Trung Lộc (nay thuộc huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam) cư trú.
     Căn cứ tân tỉnh Trung Lộc lúc bấy giờ là một thung lũng trải dài gần 10 km từ chân đèo Le ra đến bờ sông Thu Bồn, nơi có bến chợ Trung Phước, một chợ đầu mối về lâm thổ sản khá nổi tiếng ở Quảng Nam thời bấy giờ. Bề ngang của thung lũng nơi rộng nhất khoảng 2 km, còn nơi hẹp nhất cũng hơn 1 km, phần lớn đã được khai phá thành ruộng vườn. Ba phía đông, tây và nam là núi cao dựng đứng hiểm trở bao bọc như bước tường thành tự nhiên. Thêm vào đó, những thác Nai Mẹ, Nai Con; sông Ly Ly, Hương An; khe Trứ Vân, Thạch Bàn; đầm Mông Lãnh,… là những hào sâu, vực thẳm tạo thành những hào lũy thiên nhiên che chắn cho căn cứ. Nơi đây còn có đường bộ vượt qua đèo Le để lên Phú Cốc, Phú Bình và đường đi về phía tây qua Mộ Long lên Phước Sơn… Quan trọng hơn là con đường sông, từ Trung Phước có thể ngược dòng lên Hòn Kẽm, Phước Sơn, Bình Huề là vùng giàu lâm thổ sản và có thể xuôi dòng về tận đồng bằng trù phú của huyện Duy Xuyên, Điện Bàn, Đại Lộc, rất thuận tiện cho việc vận tải lương thực, chuyển quân. Nơi đây còn có một mỏ sắt ở địa phận hai xã Trung Lộc Đông, Trung Lộc Tây và một mỏ ở An Xuân mà nhân dân thường lấy quặng về để chế tạo nông cụ. Trong tình thế nếu bị bao vây thì cánh đồng lúa Trung Lộc có thể nuôi sống hàng ngàn con người trong nhiều tháng.
     Tại căn cứ tân tỉnh Trung Lộc, sau khi ổn định nơi ăn chốn ở, bà Phan Thị Hòa đã tập hợp anh em nghĩa quân cũ của chồng mình và được Hội chủ Nguyễn Duy Hiệu giao đóng quân tại núi Chóp Vung làm tiền đồn án ngữ con đường độc đạo dẫn vào căn cứ. Nhưng tình hình ngày càng khó khăn và phức tạp hơn. Quân triều đình liên tục uy hiếp tấn công vào Trung Lộc, Hội chủ Nguyễn Duy Hiệu bắt buộc phải lui quân về An Lâm. Gia đình bà Phan Thị Hòa được lệnh phân tán ra ở trong dân vùng Dùi Chiêng (nay là thôn Dùi Chiêng, xã Phước Ninh, huyện Nông Sơn) để dấu tung tích.
     Sau khi cụ Phan Bá Phiến tuẫn tiết, cả gia đình cụ Nguyễn Duy Hiệu bị bắt, Nghĩa hội Quảng Nam tan rã nhưng gia đình bà Phan Thị Hòa vẫn còn ở lại trong vùng tân tỉnh Trung Lộc. Hơn mười năm sau, khi tình hình hoàn toàn lắng xuống thì gia đình bà mới trở về lại Hà Lam. Cho dù Nguyễn Duật đã mất đi nhưng người dân huyện Lễ Dương vẫn gọi ông bằng mỹ hiệu “ông Cử Hội” và tôn vinh là liệt sĩ của phong trào Nghĩa hội Quảng Nam.
V.V.H


     CHÚ THÍCH:

     1 Lễ phần huỳnh (phần là đốt cháy, huỳnh là màu vàng hay giấy màu vàng) là lễ đốt bản sao trên giấy màu vàng Chiếu Dụ của vua ban ân về phẩm trật quan giai dành cho cha mẹ đã quá cố của một vị đại quan. Ông Lê Quang Phước - Chánh Thư ký Tòa Khâm sứ Trung Kỳ trong bài "Ý nghĩa của Lễ phần huỳnh và ân tứ phong tặng" in trên tập san Những người bạn cố đô Huế (B.A.V.H), tập XXVI, năm 1939, cho biết: "Khi người con trai đã thực thụ dự vào phẩm trật hàng thượng quan (khởi đầu từ tứ phẩm đối với hàng quan văn và tam phẩm đối với hàng quan võ) thì cha mẹ còn sống hay đã quá cố đều có quyền, nhờ hồng ân đặc biệt của Hoàng đế ban cho, hưởng một phẩm trật quan giai danh hàm về hàng quan văn hoặc hàng quan võ ngay dưới hạng tùng dành cho phẩm trật của người con trai. Nếu cha mẹ đều còn sống thì người ta làm Lễ sanh phong, một lễ cúng rất long trọng nhưng không có nghi thức gì khác hơn là nghi thức đã thường có trong mọi buổi lễ được tổ chức để đón nhận và tuyên đọc Chỉ Dụ của nhà vua. Còn Lễ phần huỳnh, trái lại, đã mang tính chất một buổi lễ tôn giáo rất xúc động, trong lễ đó vong linh của cha mẹ đều được triệu thỉnh một cách sùng kính để nghe tuyên đọc Chỉ Dụ của nhà vua và để nhận phẩm trật, tước hiệu vào hàng quan giai... Bằng sự tôn phong hầu như chính thức này, linh hồn của cha mẹ họ sẽ được hãnh diện và bằng lòng về họ.
     2,4 Phan Trần Chúc. Vua Hàm Nghi. Chính Ký xuất bản, 1952, tr. 31, 81.
     3 Tân Sở - kinh thành mới. Thành được xây từ năm 1883, tọa lạc trên một gò cao thuộc huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, gần sát biên giới nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, có đường sang Lào và ra tận miền Bắc, có lương thực, tiền bạc, vũ khí được cất giữ ở đây, có khoảng gần 1.000 quân do Đề đốc Trần Xuân Soạn chỉ huy, trấn đóng từ trước. Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi đến Tân Sở được 10 ngày thì tâu rằng, Tân Sở nằm giữa thung lũng trông giống như một cái túi, nếu thực dân Pháp tấn công sẽ khó bề xoay sở liền đem vua ra Quảng Bình, Hà Tĩnh. Nhưng bị quân Pháp truy kích quá gắt phải đưa vua trở lại Tân Sở cho đến ngày bị bắt.
     5, 6 Võ Ngọc Nhã - Lam Giang. Đặng Đức Tuấn - Tinh hoa Công giáo ái quốc Việt Nam. Tác giả tự xuất bản, 1970, tr. 518, 420.
     7 Nguyễn Q. Thắng. Huỳnh Thúc Kháng - Con người và thơ văn. Phủ Quốc vụ khanh Đặc trách Văn hóa xuất bản, 1971.
     8 PGS.TS. Ngô Văn Minh. Chí sĩ Lê Cơ trong phong trào yêu nước chống Pháp đầu thế kỷ XX. Nxb Đà Nẵng, 2012, tr. 29-30.
     9 Nguyễn Công Xuân. Gia phả cụ Nguyễn Duật. Thăng Bình, 1985.
     10 Phan Bội Châu. Việt Nam vong quốc sử. Tao Đàn xuất bản, 1969, tr. 36.

 
     TÀI LIỆU THAM KHẢO:
    1. Nguyễn Thế Anh. Việt-Nam dưới thời Pháp đô-hộ. Tủ sách Sử-Địa Đại-Học. Lửa Thiêng xuất bản, 1970.
     2. Phan Bội Châu. Việt Nam vong quốc sử. Tao Đàn xuất bản, 1969.
     3. Phan Trần Chúc. Vua Hàm Nghi. Chính Ký xuất bản, 1952.
     4. Nguyễn Sinh Duy. Phong trào Nghĩa hội Quảng Nam. Nxb Đà Nẵng, 1996.
    5. Gia phả cụ Nguyễn Duật. Bản ghi chép của ông Nguyễn Công Xuân - cháu nội cụ Nguyễn Duật, ngày 06-6-1985.
     6. Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế. Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2006.
     7. Nguyễn Q. Thắng. Huỳnh Thúc Kháng - Con người và thơ văn. Phủ Quốc vụ khanh Đặc trách Văn hóa xuất bản, 1971.
     8. Nguyễn Q. Thắng. Trần Văn Dư với phong trào Nghĩa hội. Nxb Văn hóa Thông tin, 2001.
     9. Tây Hồ Phan Chu Trinh. Trung kì dân biến thỉ mạt ký. Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa xuất bản, Sài Gòn, 1973.
     10. PGS.TS. Ngô Văn Minh. Chí sĩ Lê Cơ trong phong trào yêu nước chống Pháp đầu thế kỷ XX. Nxb Đà Nẵng, 2012.
     11. Võ Ngọc Nhã - Lam Giang. Đặng Đức Tuấn - Tinh hoa Công giáo ái quốc Việt Nam. Tác giả tự xuất bản, 1970.
     12. Hà Ngại. Khúc tiêu đồng. Nxb Trẻ, 2014.
V.V.H

Các tin khác:

CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ








Thông báo
















Thống kê truy cập

00005802022

Hôm nay: 1238
Hôm qua: 2862
Tháng này: 65107
Tháng trước: 85535
Số người đang Online: 64