CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM (20/11)!
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Danh nhân Thăng Bình

Tiểu La Nguyễn Thành (1863 - 1911)

Tác giả: Võ Văn Hoàng Ngày đăng: 9:03 | 08/03/16 Lượt xem: 1833

Tiểu La Nguyễn Thành trước có tên là Nguyễn Hàm1, tự Triết Phu, hiệu Nam Thịnh, sinh năm Quý Hợi (1863) tại làng Thạnh Mỹ, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (nay là thôn Quý Thạnh, xã Bình Quý, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam). Ông nguyên là Tán tương quân vụ dưới thời Cần vương, có mối quan hệ mật thiết với cụ Phan Sào Nam (Phan Bội Châu) và Phan Tây Hồ (Phan Châu Trinh), là nhân vật trọng yếu ở giai đoạn tân thời.

     Thân thế:
     Tiểu La Nguyễn Thành xuất thân trong một gia đình nho học, thân phụ là cụ Nguyễn Trường (trước có tên là Nguyễn Thiện Chánh) - đỗ cử nhân khoa Mậu Ngọ năm Tự Đức thứ 11 (1858) tại trường thi Hương ở Thừa Thiên.2 Sau khi đỗ đạt, cụ Nguyễn Trường làm quan dưới triều Tự Đức (trị vì: 1847 - 1883), giữ chức Bố chánh tỉnh Bình Định, sau sung chức Kinh lược sứ An Khê, hàm Tham tri. Nguyễn Thành là con thứ (con bà thứ thất), nhưng lại là trưởng nam và cũng là con trai duy nhất của cụ Nguyễn Trường. Vì anh của Nguyễn Thành là Viên Triêm (con bà chánh thất) đã qua đời lúc còn nhỏ.
     Thuở nhỏ, Nguyễn Thành tư chất rất thông minh, phong cách đĩnh ngộ, lên 5 tuổi được cha mẹ cho học chữ Hán và năm lên 7 tuổi học thêm võ thuật. Ông rất hiếu học, nghe hiểu và nhớ nhiều, chú tâm luyện tập võ nghệ, nghiên cứu binh thư và các sách về lịch sử, địa lý nên sớm trở thành một người am tường nhiều lĩnh vực. Năm lên 8 tuổi, mẫu thân qua đời, Nguyễn Thành được bà đích mẫu hết lòng thương yêu, chăm sóc. Năm lên 15 tuổi, cụ Nguyễn Trường giữ chức Bố chánh tỉnh Bình Định thì ông theo thân phụ và đích mẫu vào ở Bình Định. Tại đây, ông tiếp tục học văn chương và võ thuật. Năm ông 16 tuổi, cụ Nguyễn Trường lâm bệnh nặng và qua đời ở lỵ sở Bình Định, trong khi bà đích mẫu có việc gia đình phải về quê trước đó. Tuổi còn niên thiếu nhưng ông đã theo phò quan tài của cha về lại Thăng Bình. Trên con đường thiên lý lúc bấy giờ, “chưa có xe lửa, xe hơi” nên việc đi lại hết sức khó khăn, nhưng ông tự mình chỉ huy mọi việc, sắp đặt đâu vào đấy, khi quan tài của cụ Nguyễn Trường được đưa về đến quê nhà thì người trong làng đều lấy làm lạ.
     Kể từ ngày phụ thân qua đời, Nguyễn Thành ở lại quê nhà phụng dưỡng bà đích mẫu, chăm lo ôn văn, luyện võ ngày đêm không lúc nào chễnh mãng, ban đêm ông thường thức đến 2, 3 giờ sáng khiến cho bà đích mẫu và các chị phải khuyên ngăn vì lo ngại đến sức khỏe của ông. Sau đó, ông lập gia đình với một người con gái tộc Hồ ở phố cổ Hội An, hạ sinh được một người con trai và một người con gái.
     Tham gia Nghĩa hội Cần vương:

     Năm Hàm Nghi nguyên niên (Ất Dậu, 1885), ông ra kinh thành Huế dự kỳ thi Hương, khi còn đang ở nhà trọ trong thành chờ vài hôm nữa trường thi mở cửa thì xảy ra cuộc binh biến vào đêm mồng 4 rạng sáng ngày mồng 5 tháng 7 năm 1885 do Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết lãnh đạo, tấn công quân Pháp ở đồn Mang Cá và Tòa Khâm sứ (Huế). Cuộc binh biến không thành, kinh thành Huế thất thủ, cả thành xôn xao, quân dân chạy trốn tán loạn, các lối ra bến đò đều bị ngăn trở, Tôn Thất Thuyết phải đưa vua Hàm Nghi chạy ra căn cứ Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị) nhằm tránh sự truy bắt của thực dân Pháp. Trước tình hình đó, Nguyễn Thành bèn đổi trang phục học trò, giả dạng người dân nghèo khó tìm đường vượt Hải Vân quan quay về quê hương.
     Tại căn cứ Tân Sở, vua Hàm Nghi đã phát Dụ Cần vương. Khi Dụ Cần vương vừa được ban ra, khắp các tỉnh, thành, phủ, huyện đâu đâu cũng nhiệt tình hưởng ứng. Nhưng Tôn Thất Thuyết cùng quần thần theo phò vua đã bất lực, không có đường lối chủ trương, kế hoạch cụ thể để tổ chức, lãnh đạo công cuộc kháng chiến nên các quan chức khoa bảng, sĩ phu, hào mục yêu nước khắp nơi phải tự động đứng ra chiêu mộ binh mã, rèn đúc binh khí, lập căn cứ chống Pháp ở từng vùng riêng lẻ. Họ phải tự lo liệu lương thực, vũ khí và tự quyết định chiến trường cũng như mục tiêu tác chiến của mình.
     Mặc dù không có sự lãnh đạo, chỉ đạo từ trung ương. Nhưng với tinh thần yêu nước, ý chí tự tồn của một quốc gia được xây dựng trên cơ sở độc lập, tự do, mà dân tộc Việt đã hun đúc qua một ngàn năm chống xâm lăng phương Bắc. Giới trí thức, văn thân yêu nước đã huy động được sự hưởng ứng nồng nhiệt của mọi tầng lớp nhân dân, từ nam đến nữ, từ trẻ đến già, cũng như mọi sắc tộc Kinh - Thượng đã tự nguyện, tự phát dấy lên một phong trào quật khởi, chống cường địch bảo vệ non sông, tiếp nối truyền thống bất khuất của cha ông để lại.3
     Lúc bấy giờ Tiểu La Nguyễn Thành mới 22 tuổi, ông đã tận mắt chứng kiến những hành động ngang ngược vô nhân đạo của thực dân Pháp đối với nhân dân ta lúc kinh thành Huế thất thủ nên ông vô cùng căm phẫn. Vì thế, sau khi vượt Hải Vân quan về đến quê nhà, ông liền đứng ra kêu gọi tập hợp thanh niên trai tráng trong vùng thuộc các huyện Thăng Bình, Quế Sơn kết đoàn tụ nghĩa.
     Trong một đêm trăng, mấy mươi trai tráng đã cùng nhau tề tựu tại nhà ông, họ lập hương án giữa vườn quế trước nhà làm lễ tuyên thệ với hồn thiêng sông núi, nguyện đồng sinh, đồng tử, làm tròn trách nhiệm của người trai đối với Tổ quốc, non sông, thể hiện tinh thần “Quốc gia khuynh nguy, thất phu hữu trách”. Sau lễ tuyên thệ, một cuộc họp diễn ra, ông yêu cầu tập thể chọn lựa, cử ra một người lãnh đạo. Sau một hồi bàn bạc, tập thể đã đồng thanh đề cử Tiểu La làm người lãnh đạo chỉ huy. Đơn vị lúc đầu chỉ có mấy chục người, ông yêu cầu mỗi người trong đội mời gọi thêm bạn bè của mình. Trong vòng một tháng, đơn vị đã lên đến con số cả trăm người. Ông chia đơn vị thành cơ, đội, cử người làm cơ đội trưởng và ráo riết luyện tập võ thuật, binh pháp suốt ngày đêm, cũng như các nơi, đơn vị phải tự lo liệu lương thực, khí giới. Và mặc dù mọi người phải nhờ vào cơm cha, áo mẹ nhưng tất cả thành viên trong đơn vị đều vui vẻ, hăng hái, nỗ lực luyện tập đợi ngày xông pha chiến trận, diệt thù cứu nước.4
*
*       *
     Trước đó, vào cuối năm 1884, Tiến sĩ Trần Văn Dư (1839 - 1885), được đặc phái giữ chức Chánh sơn phòng sứ Quảng Nam. Đến tháng 9 năm Ất Dậu (1885), Dụ Cần vương được ban ra, Trần Văn Dư hưởng ứng và thành lập Nghĩa hội Quảng Nam. Dưới sự lãnh đạo của ông, Nghĩa hội Quảng Nam đảm nhiệm hai chức năng chính là tổ chức, quản lý xã hội và chiến đấu chống sự thống trị của thực dân Pháp. Ông quyết định đánh chiếm thành tỉnh Quảng Nam nên kêu gọi Nguyễn Thành đem quân phối hợp. Nguyễn Thành nhận nhiệm vụ chỉ huy đội quân đi tiên phong và họp kín với Hội chủ Trần Văn Dư để đưa ra kế hoạch tác chiến. Cuộc tấn công chớp nhoáng, bất ngờ đã làm quân địch bối rối không kịp chống trả nên nghĩa quân đã chiến thắng vẻ vang. Trong Truyện cụ Tiểu La được Phan Bội Châu viết bằng chữ Hán, Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng dịch sang Quốc ngữ cho biết, “khi lần đầu nghĩa quân lấy thành tỉnh Quảng Nam, các tướng sĩ đua nhau vào thành khuân tiền bạc, của cải. Riêng Tiểu La Nguyễn Thành vào kho thuốc đạn, thâu thập các đồ binh khí đem về, nhân thế khi nghĩa quân bị thua liên tục mà ông vẫn giữ được đồn mình, có quân chống lại quân Pháp suốt mấy tháng trời”.5
     Sau chiến thắng tại thành tỉnh Quảng Nam, Tiểu La thấy binh lực cũng như hậu phương của nghĩa quân còn yếu nên bàn với Hội chủ Trần Văn Dư rút quân về vùng núi để lập căn cứ kháng chiến, xây dựng lực lượng, rèn luyện võ nghệ,… để tiến hành kế sách chiến đấu lâu dài với kẻ thù, không nên chiếm giữ thành vì thế nào quân Pháp cũng phản công. Nhưng Hội chủ Trần Văn Dư nghe theo lời các tướng sĩ của mình, không chấp nhận ý kiến của ông nên ông đành phải rút quân của mình về vùng núi Ô Gia thuộc huyện Đại Lộc để lập căn cứ.
     Tại thành tỉnh Quảng Nam, Trần Văn Dư cùng các bộ tướng ngày đêm lo đắp lũy, sửa thành, canh phòng nghiêm ngặt, quyết tâm chống giữ. Sau đó, quân triều đình được sự hỗ trợ của quân Pháp kéo vào tấn công để chiếm lại thành. Cho dù nghĩa quân đã chiến đấu hết sức anh dũng nhưng do vũ khí thô sơ, thiếu thốn, chưa quen chiến trận, chưa được rèn luyện kỹ lưỡng như quân triều đình nên đành phải rút lui khỏi thành tỉnh kéo về căn cứ nhằm bảo toàn lực lượng. Đến tháng 10 năm 1885, sơn phòng bị thất thủ, sau đó Hội chủ Trần Văn Dư bị bắt và bị sát hại vào ngày 8 tháng 11 năm Ất Dậu (tức ngày 13-12-1885).
     Đầu năm 1886, Nghĩa hội Cần vương Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định chính thức thành lập và tôn Nguyễn Duy Hiệu làm hội chủ, lập trụ sở tân tỉnh ở Trung Lộc để chỉ huy. Nguyễn Duy Hiệu biết Tiểu La là người trác tuyệt nên viết thư mời ông tham gia và cử ông giữ chức Tán Tương quân vụ kiêm Tham biện tỉnh vụ. Từ đấy nhân dân trong vùng gọi ông là Tán Hàm.
     Tiểu La đã tổ chức nghĩa quân thành cơ, đội và đề ra kỷ luật, thưởng phạt hết sức nghiêm minh, ngày đêm ráo riết luyện tập binh pháp, võ nghệ. Để mở rộng địa bàn kháng chiến, ông đề nghị với Hội chủ Nguyễn Duy Hiệu lập thêm các căn cứ ở phía nam của tỉnh như căn cứ ở núi Gai, La Nga, Eo Gió, An Lâm, kho quân lương ở Dốc Trâm, các lò rèn đúc binh khí ở Đồng Linh, Phước Cang và một nơi chế hỏa pháo, tạc đạn ở Phước Hà.
     Nguyễn Thanh Dân - Cháu nội của Tiểu La trong cuốn sách “Tiểu La Nguyễn Thành - Nhà ái quốc và cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20” cho biết, đây là thời gian Nghĩa hội Cần vương Quảng Nam phát triển rầm rộ nhất, căn cứ được lập thêm, nhân sự tham gia rất nhiều, quân sĩ đông, nhưng chi phí cũng ngày một nhiều, các đóng góp của dân chúng cho dù không ít nhưng vẫn không đủ để chi dùng, cụ Tiểu La phải xin bà đích mẫu cho bán gần 30 mẫu ruộng đất của thân phụ và thân mẫu của gia đình để chi dùng thêm cho các chi phí phát triển, xây dựng các căn cứ và cơ sở mới.6
     Sau khi phát triển lực lượng, Tiểu La liền mở các cuộc tập kích vào các đồn binh của quân Pháp và Nam triều làm cho quân địch bối rối phải lo phòng thủ. Tháng 11 năm Bính Tuất (1886), quân Pháp và quân Nam triều dưới sự chỉ huy của Đại tá Braxcini mở cuộc hành quân lên Ái Nghĩa (Đại Lộc) để tiêu diệt nghĩa quân. Tiểu La đem quân mai phục ở các địa thế hiểm trở, chờ lúc nửa đêm khi quân địch ngủ say bất ngờ tấn công, chúng phải mở đường máu chạy về Thu Bồn để phối hợp với quân Pháp đồn trú tại đây. Thừa thắng, ông lại tiếp tục tấn công Thu Bồn, quân Pháp bại trận phải bỏ luôn Thu Bồn chạy về Đà Nẵng. Từ đó thanh thế của nghĩa hội ngày càng vang dậy, nghĩa quân đã làm chủ hầu hết các vùng nông thôn của tỉnh Quảng Nam.
     Trước sự phát triển của nghĩa hội Quảng Nam thì nghĩa hội Quảng Ngãi, Bình Định lại rơi vào tình thế nguy khốn kể từ khi thực dân Pháp dùng Nguyễn Thân đem quân tấn công Nghĩa hội Cần vương ở Quảng Ngãi và Đốc Phủ sứ Trần Bá Lộc mang đội quân lính tập từ Nam Kỳ ra đánh dẹp phong trào Cần vương ở Bình Định, Phú Yên. Để bảo tồn lực lượng nghĩa hội của Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Nguyễn Duy Hiệu bèn cử Tiểu La Nguyễn Thành đem quân vào Quảng Ngãi rồi sau đó vào Bình Định tiếp cứu, đánh cho quân địch tổn thất nặng nề. Tuy quân Nguyễn Thân và Trần Bá Lộc thất trận phải rút lui, nhưng nghĩa quân của ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định cũng bị suy yếu rất nhiều.
     Qua hai mặt trận Quảng Ngãi, Bình Định, Nguyễn Thân đã đánh giá cao về tài quân sự của Tiểu La nên có lòng yêu trọng, hạ lệnh cho quân sĩ rằng: “Phải bắt sống Tán Hàm, không được bắn chết”. Đồng thời căn dặn tướng sĩ của mình phải hết sức cẩn trọng đối với ông. Trong lúc giao chiến, cấm không được khinh suất để chuốc lấy thảm bại vì: “Nam Ngãi dụng binh duy Hàm nhất nhơn” (Đảng Nam, Ngãi duy có chắc Nguyễn Hàm là biết thạo việc binh).
     Sau khi đặt Đồng Khánh lên ngôi, thực dân Pháp mở chiến dịch quân sự quyết liệt nhằm tấn công và truy quét các căn cứ Cần vương ở khắp nơi. Tại Quảng Ngãi, sau trận kịch chiến với Nguyễn Thân, lực lượng nghĩa binh suy yếu, thủ lĩnh Nguyễn Bá Loan qua đời. Cần vương Quảng Ngãi, Bình Định tuy chưa bị tan rã nhưng cũng không còn đủ sức tấn công quân giặc như trước. Trước tình hình đó, Nguyễn Thân đem quân ra Quảng Nam phối hợp với quân Pháp và quân Nam triều tấn công như vũ bão vào các căn cứ nghĩa quân, căn cứ tân tỉnh bị đánh ác liệt. Tại trận kịch chiến ở Gò May, nghĩa quân đại bại, tân tỉnh bị đốt cháy, san bằng, Nguyễn Duy Hiệu - Hội chủ và Phan Bá Phiến - Hội phó, phải giải tán lực lượng. Phan Bá Phiến phải uống thuốc độc tự tử, Nguyễn Duy Hiệu tự trói mình nạp mạng cho quân thù để nhận lãnh hết trách nhiệm, nhằm bảo toàn lực lượng, rồi chịu chết.
      Lúc bấy giờ, nghĩa quân còn lại rất ít, phải thường xuyên lẫn quất ở vùng triền núi Quảng Ngãi, nhưng Nguyễn Thành và Hồ Học dùng mưu lược chiến đấu suốt cả năm trời mà Nguyễn Thân không thể nào tiêu diệt được. Tuy vậy, tình hình đất nước ngày càng xấu đi khi khuya ngày 26 tháng 9 năm 1888, vua Hàm Nghi bị thực dân Pháp bắt và đày sang Alger (thủ đô xứ Algérie), làm cho tinh thần của nghĩa quân nao núng, nhiều người bỏ về quê, quân số chỉ còn khoảng mấy chục người, đa số là người Quảng Nam thuộc lực lượng đưa vào tiếp viện cho Quảng Ngãi và Bình Định năm trước. Trong tình thế đó, Nguyễn Thành phải rút quân về Eo Gió (Quảng Nam) bằng đường núi. Khi đoàn quân của ông đến đoạn đường hiểm trở, hai bên vách núi cheo leo tên là Cầu Cháy (thuộc huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) thì bị quân của Nguyễn Thân phục kích vây đánh, tướng Hồ Học trúng đạn tử thương, còn ông thì bị bắt giam tại nhà lao Quảng Ngãi. Nguyễn Thân vì phục tài của ông nên đã ra lệnh cho thuộc hạ không được giết chết mà phải bắt sống hầu mua chuộc, dụ dỗ ông ra làm quan với Nam triều, nhưng ông lấy cớ phụng dưỡng mẹ già, xin được về quê cày cuốc làm ăn sinh sống, Nguyễn Thân bất đắc dĩ chấp thuận nhưng đồng thời lệnh cho nha phủ Thăng Bình quản thúc, theo dõi ông. Trong Truyện cụ Tiểu La, Phan Bội Châu cho biết: “Nguyễn Thân có ý hậu đãi tiên sinh, muốn dùng tiên sinh làm vai vế, song tiên sinh không chịu cho ai dùng. Sau Nguyễn Thân vâng lệnh Chính phủ Pháp ra tiễu đảng ở Nghệ Tĩnh, có viết thư nhiều lần khuyên tiên sinh giúp sức về việc quân, tiên sinh dùng lời dịu ngọt mà chối từ, Nguyễn Thân cũng không cưỡng được”.7
     Về quê, ông xây dựng Nam Thịnh sơn trang ở làng Thạnh Mỹ (phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam). Cũng theo Nguyễn Thanh Dân thì những năm đầu, ông chăm chú điều khiển công việc cày cấy, vui vẻ chuyện trò, nhắc nhở người làm, chứng tỏ thái độ an phận làm ăn để che mắt bọn mật thám của nha phủ, chỉ sau ba năm nông trang đã phát triển, người làm ra vào tấp nập. Ông thường đi thăm các gia đình nông dân nghèo khổ, hòa đồng với cuộc sống của họ, cùng ăn với họ củ khoai lang chấm muối, uống bát nước lá mồng năm, ai cũng vui sướng, hớn hở khi được ông ghé đến túp lều tranh của họ và nhờ đó ông hiểu thêm cuộc sống cũng như thân phận của họ.
     Lúc bấy giờ, nhiều người thấy ông lúc nào cũng vui vẻ, không đá động gì đến chuyện đất nước nên lầm tưởng ông đã thỏa mãn với cuộc sống ấm no của riêng mình mà lãng quên Tổ quốc, đồng bào, nhưng nào có ai biết, đêm đêm, khi mọi người đã ngon giấc thì ông vẫn một mình trăn trở tìm kiếm một hướng đi khác thích hợp để đánh đuổi quân thù.
     Thành lập Duy Tân hội:

     Vào những năm đầu của thế kỷ XX, sau khi ổn định bộ máy cai trị ở Việt Nam, thực dân Pháp ra sức khai thác thuộc địa, đẩy nhân dân ta vào cuộc sống bần cùng, cơ cực. Thêm vào đó, bọn tham quan, ô lại của chính quyền Nam triều ngày càng nhũng nhiễu, ra sức đè đầu, cưỡi cổ, bóc lột đồng bào khiến cho đời sống của nhân dân ta hết sức cơ cực. Trước tình hình đó, một luồng gió duy tân từ Nhật Bản, Trung Quốc thổi vào Việt Nam, lập tức thu hút được sự quan tâm của tầng lớp trí thức có tư tưởng tiến bộ. Lúc này, Tiểu La được Ô Gia Đỗ Đăng Tuyển (1856 - 1911) trao cho văn bản Thiên hạ đại thế luận của Kỳ Am Nguyễn Lộ Trạch và sau đó ông còn nhận được các sách báo của Khang Hữu Vy, Lương Khải Siêu và của các tác giả khác như: Trung Quốc hồn, Tân Văn tùng báo, Dinh hoàn chí lược, Trung Đông chiến kỷ, Phổ Pháp chiến kỷ; các sách nói về nhân quyền, dân quyền, dân chủ của các nhà tư tưởng Tây Âu dịch sang Hán văn như: Dân ước luận, Vạn pháp tinh lý... do các lái buôn người Hoa đến Hội An bằng thương thuyền đem bán mà ông Châu Thơ Đồng (Châu Thượng Văn) đã chọn mua. Nhờ nghiên cứu các tài liệu sách báo đó, Tiểu La đã hiểu rõ thực trạng nghèo đói, lạc hậu của Trung Quốc và Việt Nam lúc bấy giờ và thúc đẩy ông quyết tâm cứu nước theo quan điểm, tư duy mới.
     Đầu xuân năm Quý Mão (1903), dưới sự hướng dẫn của Nguyễn Quýnh, Sào Nam Phan Bội Châu từ trường Quốc Tử Giám ở kinh đô Huế vào Quảng Nam đến Nam Thịnh sơn trang để gặp Tiểu La. Lần đầu gặp mặt nhưng giữa hai người rất tâm đầu ý hợp. Phan Bội Châu kể rằng: “Tiên sinh đầu sáp mặt tôi, vui thích như bạn đã mười năm, mới kể việc tâm phúc thường đến suốt đêm”.8 Trong câu chuyện, Phan Bội Châu đã thuật lại nguyên nhân mà ông tìm đến thăm Tiểu La. Tiểu La nói: “Trong mười mấy năm nay tôi giấu bóng trong cảnh điền viên, há có giây phút nào quên được nước đâu, chỉ vì chưa có người nào cùng chung làm việc được nên không dám khinh suất cử động. Nay có ông lại đây tôi hỏi hai điều: 1/ Đầu tiên cử sự tất phải có nương tựa vào cái danh nghĩa gì đặng hiệu triệu người trong nước. Hiện thời trình độ quốc dân ta, trừ là có quân chủ ra, không cách gì khiến cho phần đông tán thành; muốn liên lạc người trong nước, thế nào cũng nên tầm “dòng vua”, đấy là một việc; 2/ Hiện trong nước ta, không thế gì lấy độc lực mà tranh với nước mạnh kia được, nếu muốn kế sách vạn toàn, phải dụ kết ngoại viện. Đấy là một việc, ý ông thế nào?”.9
     Trước kế hoạch được Tiểu La vạch ra, Phan Bội Châu phải thốt lên: “Tôi trước năm sáu năm nay, vẫn có chí toan cứu nước giúp nòi, song khí hăng hái có thừa mà không nghĩ kế sâu xa, chỉ muốn liên lạc người nghĩa Nam Bắc kinh dinh cuộc độc lập, mà bước đầu là trở ra đường bạo động. Đến đây, nghe kế hoạch vĩ đại của tiên sinh, rất cảm phục và đành lòng nghe theo lời tiên sinh chỉ vạch”.10
     Tiểu La cho rằng: “Thuở nay, ai muốn mưu toan đại sự, trước hết phải cần ba điều này: một là thu phục lòng người, hai là góp số tiền lớn, ba là sắp đặt mua sắm quân khí cho đủ. Hễ lòng người đã chịu tin phục thì số tiền lớn có thể góp được. Có tiền thì vấn đề quân giới, không khó giải quyết đâu. Nhưng phải hiểu dân trí và tập quán của dân nước nhà, không thể nào bắt chước làm theo châu Âu được. Bọn ta muốn có cách kêu gọi nhân tâm cho dễ, nếu muốn mượn tiếng phò vua giúp chúa thì những nhà sang họ lớn kia, ai chịu phụ họa theo mình. Vậy thì ta dầu có bụng cứu nước mặc lòng, chẳng qua chỉ chết thân mình cho tròn được một tiếng vậy thôi, ngoài ra không ăn thua lợi ích gì cho việc lớn”.11
     Để thực hiện kế sách này, ông giới thiệu với Phan Bội Châu một người trong hoàng tộc đã từng âm mưu quang phục bị thất bại, trốn vào Quảng Nam được ông lo liệu, giúp đỡ, ẩn thân tại đây 5, 6 năm rồi. Phan Bội Châu kể rằng, ông cùng Tiểu La đi bộ trên 10 dặm đường, đến một cái xóm trên núi gọi là xóm Ô Gia, vào một cái nhà nho nhỏ, người chủ đó là Tôn Thất Toại, ông hết sức ngạc nhiên: “Tôi lấy làm lạ, trong núi mà có người Tôn Thất, phải đâu là sự ngẫu nhiên! Vào nhà ngồi nói chuyện mới biết người ấy lúc Kinh thành Huế thất thủ, có mưu phản động, bị án mà trốn, Tiên sinh dung dưỡng cho đến ngày nay. Song xem người khí có thừa mà trí không đủ, tôi xem cũng không hơn gì mình”.12 Vậy là Phan Bội Châu không vừa ý, muốn tìm một người khác có tài trí hơn.
     Trong Tự phán Phan Bội Châu cũng đã nói rõ chủ trương này của Tiểu La: “Tiểu La nói với tôi rằng: “Bọn ta khởi sự, trước hết phải thu lòng người. Hiện những người tư cựu thời bây giờ ngoài tôn quân thảo tặc ra, thì chưa có tư tưởng gì lạ. Sở Hoài Vương, Lê Trang Tôn chẳng qua là một thủ đoạn khi anh hùng khởi sự mà thôi! Vả lại sắp tính việc lớn, tất phải được một món kim tiền thật to, mà kho kim tiền nước ta thật chỉ là Nam Kỳ, mà khai thác Nam Kỳ là công đức triều Nguyễn, nhân tâm trong ấy còn yêu mến triều Nguyễn lắm. Vua Gia Long lấy lại nước rặt là nhờ tài lực ở trong ấy. Bây giờ nếu ta tìm được chính dòng Gia Long đặt làm minh chủ, hiệu triệu Nam Kỳ tất ảnh hưởng mau lắm. Tôi vì mang tiếng nam nghĩa cựu đảng, có hành động gì, tăm hơi dễ hở. Anh được cớ tọa giám ở giữa kinh, hết sức tìm tòi những hạng người dòng vua, thứ nhất là dòng đích vua Cao hoàng, tức là con cháu Đông cung Cảnh, may cầu được người ấy, thì nước cờ thứ nhất mới ra cờ vậy”.13
     Phan Bội Châu tán đồng chủ trương tôn quân của Tiểu La Nguyễn Thành vì nó là một “biện pháp” hữu hiệu đối với hoạt động cách mạng cứu nước lúc bấy giờ, nhất là ở Nam kỳ, dân chúng vẫn còn nhớ triều đại cũ, nên muốn thu hút sự hợp tác của họ, cần phải xướng lên việc “phù trợ quân vương” để kêu gọi lòng người.
     Sau khi bàn bạc với Tiểu La, Phan Bội Châu cho biết: “Tôi lấy làm phải lắm, từ biệt trở ra kinh, ở luôn nhà giám ước vài tháng, hễ gặp người dòng vua tất lưu ý xem xét. Con cháu nhà Hiệp Hòa, con cả vua Đồng Khánh, thảy qua lại cầu thân, nhưng chưa có ai là tâm hợp cả. Đã lâu ngày mới thăm dò được Đông cung Anh duệ Hoàng thái tử còn có đích tự tôn là Kỳ Ngoại Hầu Cường Để có phủ thờ riêng ở làng An Cựu. Nhân có người bạn tôi là tú tài Hồ Thiếp, người Quỳnh Lưu rủ nhau lấy cớ xem tướng số vào nhà Kỳ Ngoại Hầu, bắt đầu khai mối nói bằng tướng mệnh, dò được người ấy có sẵn chí lớn, mới đem những lời của Tiểu La mà nói với Hầu. Hầu rất biểu đồng tình, liền ăn thề định ước với nhau. Đoạn rồi tôi liền vào Quảng Nam cáo với Tiểu La, hẹn nhau ngày tháng 2 năm ấy hội kiến Kỳ Ngoại Hầu ở nhà Bố chánh Phạm Quý Thích”.14
     Tháng 10 năm Quý Mão (1903), Tiểu La với hành trang của một lái buôn bí mật ra kinh đô Huế gặp Kỳ Ngoại Hầu Cường Để tại tư gia quan Bố chánh Phạm Quý Thích, ông trình bày với Cường Để những kế sách chống Pháp và ngỏ ý mời Cường Để tham gia với vai trò đứng đầu để có danh nghĩa hiệu triệu người trong nước, huy động kim tiền và để liên kết với nước ngoài. Cường Để rất phấn khởi và hứa với ông sẽ vào Quảng Nam dự họp bất cứ lúc nào nhận được tin của ông và Phan Bội Châu.
     Tháng 12 năm Quý Mão (1903), Tiểu La thúc giục Phan Bội Châu lên đường vào Nam kỳ, ông nói với Phan Bội Châu: “Anh bây giờ Nam hành được rồi”. Tiểu La lo liệu cho Phan Bội Châu rất chu đáo, từ việc mua sẵn giấy thông hành, đưa tiền lộ phí đến việc phái người nhà là Tư Doãn đi theo giúp đỡ Phan Bội Châu. Sau khi vào đến Sài Gòn, Phan Bội Châu ở lại đây chơi vài ngày rồi lần lượt đi khắp các miền Lục tỉnh, vừa du lịch, vừa vận động. Cuối tháng 12, Phan Bội Châu đến chùa Bảy Núi ở vùng Thất Sơn (Châu Đốc, An Giang) tìm gặp Trần Nhật Thị, một nhà tu yêu nước ẩn cư để bàn việc đồng thời tìm tin tức của dư đảng nghĩa quân Nam Kỳ và giới thiệu Kỳ Ngoại Hầu Cường Để với Nam kỳ Nghĩa dân. Sau đó, Phan Bội Châu về đến Quảng Nam, vào Nam Thịnh sơn trang cáo với Nguyễn Thành những việc Nam hành. Ông ở lại một hôm rồi trở về kinh vì sự cố giám sinh vắng mặt lâu ngày tất người ta sinh nghi nên phải về gấp.
     Tháng 3 năm Giáp Thìn (1904), Tiểu La đã tiếp đón nhà tu Trần Nhật Thị ở Châu Đốc cùng một số đồng chí khác từ Nam Kỳ đến Nam Thịnh sơn trang và Phan Bội Châu ở Huế vào họp bàn để định ước ngày khai hội.
     Ngày 8 tháng 4 năm Giáp Thìn (1904), tại Nam Thịnh sơn trang, Tiểu La đã tổ chức cuộc hội nghị bí mật. Cuộc họp này đã quy tụ hơn 20 nhân vật trọng yếu để quyết định thành lập Duy Tân hội và bầu Kỳ Ngoại Hầu Cường Để làm Hội trưởng. Sự kiện lịch sử trọng đại này đã được Phan Bội Châu ghi lại trong Tự phán:
     “Tới ngày ký ước, chính là thượng tuần tháng tư, tôi vào nhà Tiểu La phó hội, có Kỳ Ngoại Hầu tới luôn. Người giữa hội là người trọng yếu, hơn hai mươi. Nhân vì nhà Tiểu La khách ngoài thường đông, người trong nhà với hào dịch trong làng vẫn cho là thường và Tiểu La lại thạo kế “anh hùng khi nhân”, nên những bọn chó săn chim mồi không đứa nào biết được cả. Bắt đầu khai hội từ buổi sáng, đến chính trưa mới tan. Tên hội chỉ những người trong hội biết mà thôi. Không lập sổ sách, không biên chép họ tên, chương trình kế hoạch chỉ miệng trao, lòng truyền mà thôi. Đặt Kỳ Ngoại Hầu làm hội chủ, hễ lúc xưng hô thì gọi bằng ông chủ, cấm không được hở chữ hội ra. Hội viên trọng yếu lúc bấy giờ thì có những người như Nguyễn Hàm, Trình Hiền, Lê Võ, Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân, Thái Nam Xương, tôi và những người khác nữa. Những tiếng xưng hô nhau chỉ gọi bằng anh em, tuyệt không đặt ra danh mục gì. Những việc thương định ở trong ngày hội ấy, trọng yếu nhất có ba khoản:
     1/ Muốn khuếch trương thế lực cho hội, tất phải trong một kỳ hạn gần đây, chiêu đảng viên cho đông thêm, góp đảng phí cho dày thêm. Sẽ trù tính cho cả món tài liệu.
     2/ Sau khi bạo động phát nạn (phát sinh) được rồi, phải lo gấp những tài liệu tiếp tục để tiến hành.
     3/ Định một phương châm ra ngoài cầu viện với thủ đoạn nên như thế nào.
     Ba khoản trên chia ra làm hai: hai khoản trước thì giao cho các đảng viên góp sức chung cùng nhau, còn khoản sau thì giao cho Nguyễn Hàm và tôi bàn kín với nhau vì ngăn ngừa việc có lậu tiết, các hội viên không được dự nghe”.15
     Đối với việc tập hợp đồng chí và quyên mộ quỹ có thể giải quyết được, nhưng khó nhất lúc này là vấn đề quân giới. Trong Ngục trung thư, Phan Bội Châu đã viết rõ: “Phải chi mình ở vào những đời Ðinh, Lý, Lê, Trịnh thuở xưa, thì chỉ vung cánh tay mà kêu lên một tiếng, tức thời sóng dậy sấm vang chỉ là việc thành trong khoảng giây lát mà thôi. Nhưng đời nay thì khác hẳn. Từ lúc đời có súng đạn phát minh ra, bao nhiêu khí giới gọi là gươm giáo đao thương đã hóa ra đồ bỏ. Cái thứ để chặt cây làm mác kia, đời xưa người ta vác đi đánh Tần đuổi Sở được, chứ đời nay có dùng nó làm nên trò vè gì!”.16
     Phan Bội Châu đã thấy rằng tuy dân tộc ta vốn có truyền thống kháng chiến anh dũng chống ngoại xâm, nhưng thực dân Pháp ngày nay không giống với thế lực phong kiến Trung Quốc thuở xưa vì họ có vũ khí hiện đại do đó đã áp đảo được chúng ta. Vậy muốn đánh đổ thực dân Pháp cần phải có vũ khí hiện đại. Ở Việt Nam lúc bấy giờ không có khả năng kiếm được những vũ khí đó vì bị người Pháp độc chiếm, quản lý và kiểm soát gắt gao. Trong Ngục trung thư, Phan Bội Châu viết:
     “Còn khẩu súng nào ở trong tay người mình, thì ngày đêm có tướng tá Pháp gìn giữ coi chừng hoài. Trong hàng quân ngũ, từ chức cai đội trở lên cũng không có người mình được làm. Nếu muốn dỗ họ trở súng cộng sự với mình, lúc bình thường không phải là chuyện dễ, trừ ra khi nào có phát sinh đại chiến, họa chăng sự mưu tính mới được thực hiện. Các ông sách sĩ (người chuyên nghĩ mưu tính kế) trong đảng chúng tôi lúc ấy, gặp phải một vấn đề to lớn khó khăn mà không sao giải quyết được, ấy chính là vấn đề quân giới.
     Trong nước ta có sở chế tạo quân giới nào, đều có binh lính Pháp chiếm giữ, canh gác cẩn mật, nếu bà con mình đi qua hơi liếc mắt dòm mấy nơi đó cũng bị tội nặng lập tức. Như vậy thì chúng tôi có nhúng tay vô chỗ nào mà lấy khí giới được đâu!
     Muốn mua khí giới ở ngoại quốc chở vào cho mình lại cũng không được. Là vì bao nhiêu cửa biển trong nước, cửa nào cũng có nhà chuyên trách của Bảo hộ cắt đặt, khám xét dò la hết sức nghiêm ngặt. Dầu cho mình mua ở ngoài được, nhưng một số quân giới rất nhiều, mình có phép tiên, chước quỷ gì mà vận tải nó lọt vô xứ này cho nổi?”.17
     Con đường tìm kiếm vũ khí đã bị bế tắc, bàn tính mãi, cuối cùng chỉ còn cách xuất dương cầu viện. Phan Bội Châu trong Tự phán cho biết:
     “Trong khoảng vài năm, các bạn đồng chí thảy hết sức với việc đảng. Các kế hoạch như trên kia, tất có mối manh khá tốt mà Tiểu La với tôi thì hết sức vào mỗi việc xuất dương cầu viện cần nhất có hai việc: 1/ Kinh phí; 2/ Nhân tài ngoại giao với viên hướng đạo. Tiểu La mới bàn với tôi rằng: “Về việc kinh phí chỉ mình (Tiểu La) với Sơn Tẩu (Ô Gia Đỗ Đăng Tuyển) biện được xong. Nhân tài ngoại giao thật khó. Đã không người khác, tất phải anh (Phan Bội Châu) thân đi. Duy có hướng đạo viên thì tôi tính sẵn đã lâu ngày. Tôi tưởng tình thế liệt cường bây giờ nếu không phải nước đồng chủng đồng văn, tất không ai chịu giúp cho ta. Nước Tàu đã chịu nhượng Việt Nam cho Pháp, lại thêm hiện nay quốc thể suy hèn, cứu mình không xong mà cứu được ai? Duy nước Nhật Bản là một nước tân tiến ở trong nòi giống vàng mới đánh được Nga, dã tâm đang hăng hái lắm. Qua tới nó đem hết lợi hại tỏ với nó tất nó ứng viện cho ta. Nếu nó không xuất binh nữa mà mướn tư lương, mua khí giới tất có thể dễ lắm. Vậy nên chúng ta muốn đứng khóc sân Tần, không chi bằng Nhật Bản là phải.
     Anh Tăng Bạt Hổ từ ngày Cần vương thất bại, từng chạy khắp Quảng Đông, Quảng Tây, lại có mang cả quốc thư đi qua Lữ Thuận thông hiếu với Nga sứ. Việc đó bất thành chuyển qua Đài Loan dựa Lưu Vĩnh Phúc. Nhật lấy Đài Loan, Vĩnh Phúc thua chạy, Tăng quay sang Xiêm mượn đường về nước, hiện nay nép giấu ở Hà thành, nhưng mà tấm lòng phục thù càng kiên lắm. Tôi từng viết thư kêu anh về Nam, chẳng rày thời mai, Tăng quân chắc về đây. Lấy cái gánh “người đưa đường” trao cho anh Tăng, không phải lo không xe chỉ nam vậy”.18
     Tháng 7 năm 1904, mượn cớ đi chúc mừng anh em thi đỗ tiến sĩ, Phan Bội Châu đến Quảng Nam ở lại nhà của Tiểu La. Tại đây, Phan Bội Châu đến thăm nhà cụ Hoàng Thịnh Bình, gặp cụ Phan Chu Trinh và Trần Quý Cáp và ngỏ ý mình sắp đi xa, ai nấy đều chúc ông được thành công. Chẳng bao lâu thì Tăng Bạt Hổ từ Bắc trở về vừa đến nhà Tiểu La thì gặp Phan Bội Châu, qua nói chuyện, Tăng Bạt Hổ tỏ ra là người thông tuệ, “kể tình hình ngoài biển rất kỹ mà nói nhân vật nước Tàu lúc bấy giờ càng rạch ròi như đếm tiền trong túi”.19 Tăng Bạt Hổ cho biết: “Tôi không có sở trường gì khác, nhưng đã lâu năm tôi từng đi qua các nơi Việt, Quế, sang Đài Loan, đến Đông Tam Tỉnh, rồi từ Thiên Tân, Thanh Đảo trở về Thượng Hải, lại đi Nam Dương lấy sóng gió làm gối, sương tuyết làm cơm, điều đó là sở trường của tôi. Hiện nay Nhật Bản nổi dậy, châu Á đã thay bộ mặt, ta có thể đi xem thế nào. Nếu các ông dùng tôi, xin các ông cứ sai phái, tôi sẽ vui lòng”.20
     Đầu tháng 12 năm 1904, tại nhà Tiểu La, Phan Bội Châu, Đặng Tử Kính, Ngư Hải Đặng Thái Thân, Trình Ô Gia (Trình Hiền), Tôn Thất Toại, Châu Thơ Đồng đã cùng nhau thương định những kế hoạch làm việc. Việc xuất dương cầu ngoại thì do Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ, Đặng Tử Kính đảm nhiệm; việc điều hành đảng và các hoạt động trong nước thì do Tiểu La và Ngư Hải đảm nhiệm.
     Ngày 20 tháng Giêng năm Ất Tỵ (1905), Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ và Đặng Tử Kính xuống tàu thủy tại Hải Phòng ra đi. Cuối tháng 4 năm 1905 thì đến Nhật Bản. Tại đây, Phan Bội Châu đã gặp được Lương Khải Siêu và các yếu nhân trong chính giới Nhật như Khuyển Dưỡng Nghị, Bá tước Đại Ôi để nhờ Nhật Bản giúp cho binh lính, vũ khí, lương thực, nhưng bị Nhật khước từ. Theo sự góp ý của Lương Khải Siêu về sách lược chống Pháp, Phan Bội Châu đã viết Việt Nam vong quốc sử với lời lẽ vô cùng thống thiết nhằm kêu gọi thanh niên Việt Nam xuất dương cầu học để đào tạo nhân tài, làm nền tảng hưng dân khí, khai dân trí.
     Tháng 6 năm Ất Tỵ (1905), Phan Bội Châu và Đặng Tử Kính mang 50 bản Việt Nam vong quốc sử bí mật về nước với mục đích: 1/ Cốt mang ông Kỳ Ngoại Hầu xuất dương; 2/ Cốt đem ít người thanh niên tuấn tú xuất dương để làm người tiền đạo cho quốc nhân du học ngày sau. Bởi vì muốn kiếm người du học, tất cầu đến kim tiền, mà vận động kim tiền tất trước được Kỳ Ngoại Hầu xuất dương thì mới có thanh thế để vận động; cũng là một cái kế hoạch không thú vị gì ở lúc bấy giờ.21
     Vậy là sau khi bị Nhật Bản từ chối giúp đỡ binh lực cho ta, Phan Bội Châu đã chuyển hướng “cầu viện” sang “cầu học” tạo nên phong trào Đông Du, do đó Tiểu La cùng các đồng chí trong nước phải tập trung vào việc tìm nhân tài đưa đi du học và đẩy mạnh công tác kinh tài. Để có số tiền lớn gởi sang Nhật, Tiểu La đề ra chủ trương hết sức đúng đắn là vận động những người yêu nước tổ chức các hội học, hội nông, hội công, hội thương... ở các tỉnh, chăm lo sản xuất, kinh doanh, thu lợi tức, quyên góp tiền bạc để chu cấp cho Duy Tân Hội. Không những thúc giục anh em trong Duy Tân Hội phát triển việc kinh doanh, Tiểu La còn nghĩ đến việc liên kết với những người thuộc phái Duy Tân của cụ Phan Bội Châu để thành lập các hội buôn, nhờ vậy mới trong vòng 2 tháng, “thương hội” đã lập được ở 72 nơi, người nhận vào cổ phiếu rất nhiều.22
     Phong trào Đông Du được giới trẻ trong nước hưởng ứng rầm rộ, từ năm 1905 - 1908, số học sinh du học đã lên tới khoảng 200 người. Đa số họ là những thanh thiếu niên hiếu học, chịu lao khổ, có em trên dưới 10 - 11 tuổi. Theo thống kê của cụ Phan Bội Châu thì ở Nam Kỳ có hơn 100, Trung Kỳ có khoảng 50, còn Bắc Kỳ có hơn 40 học sinh. Họ được lần lượt vào các hội viên Duy Tân đem qua Nhật. Tất cả số học sinh này được vào học ở hai trường: Đông Á Đồng Văn và Chấn Võ Học Hiệu. Họ học các ngành như: cơ khí, sư phạm, quân sự, y dược, ngoại ngữ, vũ khí đạn, báo chí,… Hàng ngày các học sinh học văn hóa vào buổi sáng, còn buổi chiều học tập quân sự và luyện tập ở thao trường. Đây được xem là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của phong trào Đông Du.
     Những năm cuối đời nơi tù ngục:

     Năm 1908, phong trào “cự sưu khất thuế” nổi lên rầm rộ ở Quảng Nam rồi nhanh chóng lan rộng ra các tỉnh miền Trung, thực dân Pháp đàn áp dã man, các chí sĩ cách mạng người bị tử hình, người bị giam cầm, khổ sai. Lúc này, chính phủ Pháp tìm thấy một bức thư, trong có hai chữ “Tiểu La” nên cho rằng ông là một trong những người tổ chức việc cự sưu. Ngày 16 tháng 2 năm Mậu Thân (tức 16-3-1908), một viên thiếu úy Pháp dẫn toán lính tập trang bị súng trường lưỡi lê cùng với viên tri phủ và nha lại phủ Thăng Bình kéo đến nhà Tiểu La tại Nam Thịnh sơn trang lục soát và bắt giải ông đi.
     Tiểu La bị giải đến nhà lao Hội An cùng với các chí sĩ khác như Châu Thượng Văn, Đỗ Đăng Tuyển, Lê Bá Trinh và nhiều vị khác. Mấy ngày sau, cụ Huỳnh Thúc Kháng cũng bị giải đến và tháng 4 lại có cụ Phan Thúc Duyện, Trần Cao Vân, Võ Hữu Kiềng cũng bị đưa đến. Trong Thi tù tùng thoại Huỳnh Thúc Kháng kể:
     “Dân biến năm Mậu Thân, thân sĩ Quảng Nam trước sau bị bắt có hàng trăm đều giao về tỉnh giam xét. Duy tôi cùng Tiểu La tiên sanh bị bắt trước nhứt, giam riêng ở nhà ngục Faifo (cách tỉnh lỵ độ 10 km. Tòa sứ và các sở công ở đấy), mỗi người giam riêng một phòng, trên 3 tháng trời mới giải giao tỉnh giam xét.
     …Sáng ngày, độ 7 giờ, có một người lính tập mở cửa, một tù vào đem thùng nước tiểu ra, tôi liếc thấy cách cái sân giựa chừng 3 trượng, một cái phòng bên kia đối diện với phòng tôi cũng mở cửa, trong cũng có một người, nhìn kỹ thì người bị giam ở phòng ấy không phải là ai lạ, chính là Tiểu La tiên sanh. Hai người chúng tôi cùng ngó nhau mà cười, song chỉ trông nhau bằng con mắt mà không nói được câu gì. Cửa phòng lại khóa lại mất!
     ...Sau bữa cơm, tôi nói với người lính xin đi cầu tiêu; cầu tiêu ở sau trại lính, cách một cái sân thật rộng, khi người nào đi tiêu thì có một người lính mang súng đi theo sau. Nhà tiêu có ba chỗ ngồi ngang nhau, ngoài có tường ngăn, tường có cửa, người lính tập đứng gác ngoài cửa. Tôi vào phòng tiêu thì Tiểu La tiên sanh cũng do một người lính dẫn lại. Thế là hai anh em được ngồi trong cầu tiêu nói chuyện nhau. Từ đó, mỗi ngày sau bữa cơm trưa là hai người cùng đi cầu tiêu đặng nói chuyện, có tin tức gì cùng ý kiến gì cũng trao đổi nhau được”.23
     Tại đây chúng đã hỏi cung Tiểu La: “Nghe nói ông là người có tài. Quan cần chánh của Nam triều (Nguyễn Thân) có ý nể phục muốn tiến cử ông ra làm quan. Sao ông không nhận, nay lại xúi giục dân làm loạn?”. Tiểu La điềm tĩnh trả lời: “Dân đến cửa quan Sứ kêu xin giảm nhẹ sưu thế là vì họ đói rách cùng khổ không còn sức gánh vác nổi. Nếu như quan Công sứ thấu biết được sự khổ ải của dân mà chuẩn y cho họ thì đâu đến nỗi phải loạn. Còn riêng cá nhân tôi hoàn toàn không có dính dáng gì đến việc dân xin xâu cả”.24 Chúng hỏi ông rất nhiều nhưng không có việc nào có hồ sơ chứng cứ cả.
     Đến ngày 11 tháng 5 năm Mậu Thân (tức ngày 9-6-1908), một phiên tòa do Hồ Đắc Trung - Tổng đốc Quảng Nam thành lập tại làng La Qua, phủ Điện Bàn để xử các chí sĩ cách mạng gồm: Tiểu La, Phan Thúc Duyện, Lê Bá Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh. Trong khi Phan Châu Trinh bị bắt tại Hà Nội giải về Huế đã xử trước đó (10-4-1908) và Phan Châu Trinh cũng không bị giam tại nhà lao Hội An, mà nay chúng lại nhập vào và xét xử chung ở La Qua thêm một lần nữa.
     Trong phiên tòa này, các bị cáo và thân nhân của họ không được tham dự, không có luật sư biện hộ và bản án cũng không ghi rõ thời gian thụ án. Sau đó, bản án được trình lên viên Công sứ Pháp ở Hội An phê duyệt rồi chuyển lên Phủ Phụ chính Nam triều tại Huế, rồi được đệ trình lên tòa Khâm sứ Pháp ở Huế phê chuẩn.25 Bản án có nội dung như sau:
     “Ngày mồng 3 tháng 8 năm Duy Tân thứ 2 (tức ngày 29-8-1908).
     Phủ Phụ chính chúng thần đẳng tấu: ngày tháng 6 năm nay, tiếp tỉnh Quảng Nam lãnh Đốc thần Hồ Đắc Trung vựng tư bản án như sau:
     Tiến sĩ Huỳnh Thúc Kháng (quán thôn Bình Thạnh, phủ Tam Kỳ), cử nhân (từ đây trở xuống) Phan Thúc Duyện (quán xã Phong Thử, phủ Điện Bàn), Lê Bá Thuần (quán xã Hải Châu Chánh thuộc nhượng địa), Thị độc Nguyễn Đình Tán (hưu trí, quán xã Kỳ Lam, phủ Điện Bàn), Cung phụng Nguyễn Thành (quán xã Thạnh Mỹ, phủ Thăng Bình) là người trong danh sắc, há không biết người phản quốc (Phan Bội Châu) là người không nên theo hay sao, thế mà Nguyễn Thành thấy y đến nhà, liền mời Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng tới cùng mưu nghị, kế nghe y bỏ nước đi; Phan Thúc Duyện, Lê Bá Thuần (Trinh), Nguyễn Đình Tán lập tức rủ ký hợp thương, khuyến dụ cải trang, tụ hội diễn thuyết, đồng thời cùng ký giấy tờ.
     Cứ theo lời của tên ngụy Lãnh Hạ, thì bọn ấy trước thì nghe theo người khác kết mưu, sau thì mượn cớ hợp thương; ngầm giúp thương hội do Phan Thúc Duyện, Nguyễn Đình Tán chủ trương; diễn thuyết thì do Huỳnh Thúc Kháng, Lê Bá Thuần xướng xuất. Tức như làm thơ (Huỳnh Thúc Kháng) thì có câu thóa mạ lao lung; gửi thư (Phan Thúc Duyện) thì có lời cường quyền diện tiếp. Cũng có người (Lê Bá Thuần) ủy đi các xã thôn dụ dỗ các đoàn lấy chữ ký, mà diễn thuyết tại các trường học trong hạt phần nhiều là lời cuồng nghịch bậy bạ. Trương Huy, Lê Dư càn quấy diễn thuyết, mỗi nơi chỉ trích, phỉ báng quan lại. Mai Dị, Nguyễn Bá Trác và Phan Hoài (Khôi) không xin phép, tự tiện đi Bắc Kỳ, dịch phục cải trang. Đặng Đình Huyên dụ dỗ đồng dân cắt tóc, vũ đoán hương quyền. Lê Quang Vỹ đã được hưu quan trong hạt ủy phái đi hiểu thị, lấy cớ là đi một mình không tiện. Mai Luyện, Nguyễn Nhự xuất vốn buôn tương đối nhiều hơn, cử chỉ có nhiều điều phóng túng. Võ Hữu Kiền tụ hội diễn thuyết, nói càn tự do. Lê Xuân Lượng mở tiệm buôn, lập trường sở, họp người diễn thuyết. Lê Cơ tụ họp đông người, cải trang diễn thuyết, kết hợp hàng xóm láng giềng, lập trù bảo hiểm, tự mình quyết đoán.
     Xét bọn này: hội thương thì nhiều người ký vào hợp cổ, diễn thuyết thì nói càn quốc sự, là có can phạm phép nước. Xét tình do, thì tự Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng xướng xuất, mà bọn này là phụ họa đấy thôi. Hiện nay hạt dân náo động, nếu không án luật nghiêm trừng, thì nhân dân bắt chước làm càn, không khỏi có ngại. Nay nếu lùa hết chúng vào lưới thép, e quốc gia có chỗ bất nhẫn, nghĩ nên tham chước công luận, cho được ổn đáng.
     Cẩn án luật mưu bạn: phàm mưu bạn, chỉ là cùng mưu, không phân thủ tùng, đều trảm; nếu mưu mà chưa làm, thì vi thủ giảo, vi tùng (không phân nhiều ít), đều xử trượng, đày 3.000 dặm; biết (chưa làm) mà không thú, trượng 100, đồ 3 năm (chưa làm thì việc còn ẩn bí, nên không nói là cố ý dung túng ẩn tàng).
     Nhưng xét Phan Châu Trinh đã vâng án nghị xử tử, phát đi Côn Lôn; Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyện, xin cùng Phan Châu Trinh đồng định tội xử tử, phát phối Côn Lôn; vi tùng là Lê Bá Thuần, Nguyễn Đình Tán, Nguyễn Thành và Trương Bá Huy, xin đều xử trượng 100, đày 3.000 dặm, phát giao biệt xứ phối dịch; Lê Diện, Mai Dị, Nguyễn Bá Trác, Phan Hoài, Đặng Huyến, Lê Vỹ, Mai Luyện, Nguyễn Nhự, Võ Kiền, Lê Lượng và Lê Cơ xin đều xử trượng 100, đồ 3 năm…”.26
     Cuối tháng 5 năm Mậu Thân (6-1908), các ông bị chuyển đến nhà lao tỉnh tại làng Thanh Chiêm, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn (nay thuộc xã Điện Phương, huyện Điện Bàn) cách Hội An khoảng 9 km về phía tây chờ ngày đi Côn Đảo.
     Ngày 15 tháng 8 năm Mậu Thân (nhằm ngày 10-9-1908), Tiểu La cùng Phan Thúc Duyện, Huỳnh Thúc Kháng, Lê Bá Trinh, Dương Thạc, Trương Bá Huy, Hương Cảnh (Phước Yên), Hương Quần (Địch Thái), tất cả 8 người được chở bằng tàu hỏa ra Đà Nẵng để xuống tàu thủy đi đày.
     Tàu rời bến Đà Nẵng, trưa hôm sau cập bến Thị Nại (Quy Nhơn) để nhận thêm tù nhân của hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định. Một đoàn người gông cùm xiềng xích kéo nhau lên tàu, đó là: cử nhân Nguyễn Sụy, Nguyễn Đình Quản, tri huyện Nguyễn Mai, tú tài Nguyễn Tuyên, Phạm Cao Chẩm (Quảng Ngãi), học sinh Bình Định: Hồ Như Ý, Hương Đôn, thường dân có Chi, Tịnh. Trên chuyến tàu này có tất cả là 27 người thân sĩ và thường dân của mấy tỉnh bị đi đày.
     Đến Sài Gòn, các tù nhân bị đưa vào khám lớn Chí Hòa điểm danh, cắt tóc, thay áo quần, mỗi người phải đeo vào cổ một tấm thẻ ghi số tù rồi ở lại đó đến ngày 28 tháng 8 năm Mậu Thân (tức ngày 23-9-1908), Tiểu La cùng các bạn tù đã đặt chân lên nhà ngục Côn Đảo.
     Những năm tháng bị lưu đày nơi Côn Đảo, Tiểu La và các đồng chí của mình đã trải qua biết bao khổ cực, đắng cay. Thức ăn chính quanh năm của người tù chủ yếu là cơm gạo đỏ với cá khô, mỗi tù nhân được phát cho một cái lon bằng sắt làm chén ăn cơm, thỉnh thoảng có cá tươi, thịt mỗi tuần một lần. Thêm vào đó việc lao dịch nặng nề, phải xe đá, dọn tàu, đốn củi, khuân vác,… nên nhiều người đã lâm trọng bệnh và bỏ mình nơi Côn Đảo.
     Tiểu La thuộc loại tù bệnh hoạn, ốm yếu nên làm các công việc nhẹ như quét dọn, đan đát, còn các cụ khác mạnh khỏe thì làm công việc nặng như khuân vác, đập đá, đốn củi, trồng rau,… Nhưng về sau, sức khỏe của Tiểu La ngày càng yếu dần. Cụ Huỳnh Thúc Kháng có kể lại với ông Nguyễn Điệp con trai cụ Tiểu La rằng:
     “Tiểu La tiên sinh sức khỏe mỗi ngày một yếu, thường ốm đau luôn. Nhưng tâm não lúc nào cũng suy tính việc nước, không nghe Tiên sinh thở ra lời nói gì về lo nghĩ gia đình vợ con mà chỉ rặc toàn phán đoán thời cuộc xa gần, dự nghĩ về tình thế, vận trù sắp đặt kinh dinh cuộc cứu nước khi ra tù. Tiên sinh lúc nào cũng nghĩ đến thay đổi ở ngày mai. Ban đêm thường nhỏ to đàm đạo với đám anh em thân tín rất khuya. Trong lòng, trong bụng Tiên sinh lúc nào cũng chăm chăm việc nước. Có lẽ vì quá lao tâm nên sức khỏe của Tiên sinh hao mòn mau lắm, lại ngủ ít, ăn cũng ít. Chúng tôi lấy làm quan ngại có nói với Tiên sinh. Nhưng Tiên sinh cứ cười nói là không thấy mình suy yếu gì cho lắm đâu.
     Ở trong đám bọn tù, tuy đa phần học giới khoa bảng, nhưng tâm tính cũng hay khích khí với nhau lắm. Mỗi khi trong đám bạn tù có xích mích cãi cọ gì với nhau Tiên sinh giảng hòa vài câu là không khí thân mật trở lại ngay. Chỉ có Tiểu La Tiên sinh nói là ai cũng nghe”.27
     Tháng 6 năm 1911, Tiểu La nhận được tin người vợ hiền ở quê nhà đã qua đời vào ngày mồng 4 Tết Tân Hợi (1911), rồi lại tiếp tin người con gái đầu lòng đã lập gia đình cũng ra đi sau một cơn bạo bệnh vào tháng 4 năm Tân Hợi (1911). Kế đó ông lại được tin Chính phủ Nhật bắt tay với thực dân Pháp trục xuất lưu học sinh Việt Nam, Phan Bội Châu rồi Cường Để cũng lần lượt phải rời đất Nhật, Duy Tân hội tan rã, phong trào Đông Du kết thúc. Như vậy, kế hoạch mà ông sắp đặt hơn 10 năm qua nay bỗng dưng tan tác. Do quá phẫn uất mà sức khỏe của ông bị đe dọa, các cơn sốt thường đôi ba ngày một lần, có lúc bị thổ huyết nên đến tháng 9 năm 1911, ông được đưa vào nhà thương điều trị, nhưng đến tháng 10 năm 1911 thì bệnh thổ huyết ngày càng nặng thêm. 12 giờ ngày 11-11-1911, Tiểu La Nguyễn Thành qua đời tại nhà tù Côn Đảo lúc mới 48 tuổi.
     Khi nghe tin Tiểu La Nguyễn Thành đã vĩnh viễn ra đi, Phan Bội Châu vô cùng đau xót, hụt hẩng và cô đơn. Trong bài Điếu Nguyễn Thành ông viết:
     “Bể Á cõi bờ chung: nước Nhật mới ở đông, nước Xiêm mới ở tây, nước Tàu mới ở trung, Tổ quốc quay nhìn, máu nóng khôn quên thời đại mới;
     Thành Qua (thành La Qua) kỷ niệm lớn, bác Trần (Trần Quý Cáp) chết ở Khánh (Khánh Hòa), bác Châu (Châu Thơ Đồng còn gọi Châu Thượng Văn) chết ở Huế, nay bác lại chết ở Đảo (Côn Đảo), suối vàng uống hận, anh hùng còn mến nước non xưa”.28
     Và sau này (năm 1934), trong bài Văn tế Tiểu La Nguyễn Thành, ông đã khóc bằng những lời thống thiết, đớn đau xuất phát tự tâm can của mình:
     “Hỡi ôi! Tiểu La anh ơi! Chúng ta sinh gặp thời đại nay nếu đã vá tròn trời khuyết, lấp cạn bể oan, thời đầu năm năm mười năm hoặc vài mươi năm mang rốn lấy cái kiếp phù sinh, múa đùa với tay con tạo, chẳng thích lắm sao? Nhưng mà việc đó há phải dễ dàng đâu! Em nhớ anh có câu thơ:
     Bổ thiên vô lực đàm thiên dị
     Tế thế phi tài tỵ thế nan.
     Thật cảm kích với mấy lời ấy mà càng đau đớn cho cái đời chúng ta vậy!
     Năm xưa, em còn ở ngoài bể, được tin anh ra Côn Lôn thời tê chí dị một. Thời ôi! Một người như anh Tiểu La ta, mà sự nghiệp mới có ngần ấy, rằng đáng tiếc, tiếc biết dường nào! Rằng đáng đau, đau biết dường nào! Trong thiên hạ, sự bất như ý thường bát cửu, mà huống hồ gì với thời đại của chúng ta, lúc bấy giờ trăm ngàn việc rặt là bất như ý cả kia mà!
     Từ thuở trời đất đổi ngôi, núi sông thay sắc, kẻ trước khi chưa có anh, kẻ sau khi đã mất anh, biết bao máu nhân dân chí sĩ, biếc nhuốm cỏ xanh, vô số xương nghiệt tử cô thần, trắng chan đá bạc! Kể đáng đau, đáng tiếc, há phải một mình anh Tiểu La ta mà thôi đâu?
     Nhưng mà kể riêng về phần em thời đã đau tiếc vì đại nghĩa, mà lại đau tiếc vì tư tình!
     Nghĩ một người đã tạo ra em, thành tựu cho em, mà bây giờ kẻ mất người còn, hồn trời phách đất.
     Mây Hải Vân mờ mịt bóng gươm vàng;
     Bể Đà Nẵng chập chồng cơn sóng giận!
     Thường ngẫm nghĩ chuyện trước hai mươi năm, mưa gió bên màn, gối Việt Thạch chung dòng khi thức giấc; Thần minh trước án, rượu Văn Tường giằn chén lúc phô bày!
     Kể bạn đồng chí đồng sự trong mấy năm ấy, thâm tri em chẳng ai hơn anh; mà thâm tri anh cũng chẳng ai hơn em. Ôi! Anh ơi! Em nay lẻ loi lận đận, trời xế đường xa, kể tâm sự với ai? Anh còn sống lại được chăng? Trời khôn thăm hỏi!
     Em đã về không trơ đó, đất quá hẹp hòi! Ngậm ngùi nông nỗi ấy, bối rối sự tình này mà bảo không đứt ruột rơi châu với anh có thể nào đặng?
     Anh ơi! Anh ôi! Lịch sử anh thế nào, nhân cách anh thế nào, những ai là người có tâm huyết, có mắt tai chắc đều biết thảy!
     Em nay xin kể lại vắn tắt năm bảy câu, còn như tường thuật thủy chung, em đã viết bằng Hán văn trong Việt Nam nghĩa liệt sử.
     Than ôi! Thất bại mà vẫn anh hùng; thời cùng mới thấy tiết nghĩa.
     Kiếm mã thuở đầu xanh khởi nghĩa, hai chín tuổi đã nức tiếng tri binh; phong vân khi tay trắng chống trời, sau trăm trận vẫn bền gan sát tặc. Vai vế rập anh em đủ ngón, mười năm lẻ kinh dinh thảm đạm, chuốt vẩy rồng toan thổi chín tầng mây; Lược thao đành binh giáp ngang lưng, mấy phen từng sắp xếp trong ngoài, mài vuốt cọp quyết xông từ mặt gió!
     Vận tổ quốc đương hồi điên đảo, nên nỗi tài cao mà cũng mạnh, lưới cường quyền bủa sụp tới người khôn;
      Kiếp đồng bào chưa thoát trầm luân, ngán chiều thuyền ngược nước càng xuôi, thân hào kiệt hy sinh vì sóng dữ.
      Côn Lôn đảo đắp xây mồ thần thánh, tiếng chiêu hồn ba vạn sóng xung quanh;
     Ải Vân quan nghi ngút khói tinh thành, bia bất hủ mấy hàng non giăng dắc.
     Ôi thôi! Nghĩ càng xót ruột; nói khôn hết lời, chính chưa thỏa đã đành, mà thân em còn sống sót đến nay, tính thế nào, làm thế nào;
     Bao giờ địa hạ cáo trình anh, hồn anh thiêng liêng nghĩ giùm cho em, họa may cái sống thừa của em nhờ anh mà còn hy vọng!
     Vì vậy, đêm khuya trời tạnh, rạch máu đốt hương viết mấy lời nầy gửi thăm anh…”.29
     Đồng thời Phan Bội Châu cũng tuyên bố với đồng chí và quốc dân: “Tiểu La tiên sinh mất, Việt Nam mất một trang đại quốc sĩ”.
     Tài lãnh đạo của Tiểu La Nguyễn Thành cũng được Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng đánh giá một cách đầy đủ trong câu đối điếu ông:
     “Hai mươi năm giống trái vẫn còn, nào kinh tế, nào quân lữ, nào bí mật vận động gia, trăm lần uốn chả cong, đời cựu buổi tân, vị trí nghiễm nhiên dành một chiếu.

     Đôi ba bạn ruột rà thân thiết, kẻ sang Đông, người sang Tây, kẻ lại cùng hoang đày đọa, một ngày kia về nước, đỡ sau vùa trước, tiến trình buồn nỗi thiếu hai tay”.

     Còn chí sĩ Lê Bá Trinh khóc ông qua mấy vần thơ:
     “Bè bạn chuyện trò sầu quên lãng

     Yêu ma gặp gỡ nói ôn tồn

     Thương người cưỡi gió miền Côn Đảo

     Tiếc bạn vùi thây chốn suối vàng”.

     Và những người đồng chí của ông đã khóc ông bằng tất cả sự quý trọng:
     “Trời đất này là buổi nào? Người thì vũ đài một vọt, ta thì địa ngục mấy trùng, ngắm đường sau quạnh quẽ mênh mông, chí sĩ lòng nào đành một chết.

     Xuân thu người chưa già mấy, trước đã Ất Dậu Cần vương, sau lại Giáp Thìn tân đảng, trải kiếp sống kinh dinh sắp đặt, anh hùng gương đủ để ngàn thu”.

     (My Sanh)
     “Quân hầu (rõ là) bậc hào (phía) nam (núi) Hoành Sơn chăng? Cần vương lớp trước, tân đảng lớp sau, nửa kiếp kinh dinh, khảng khái tẩm thành ghi nét mực.

     Chúng ta chết vì tổ Hồng Lạc đấy, tám cõi bề ngang, nghìn xưa bề dọc, một bầu tâm sự, xôn xao miệng thế phó chòm mây”.

     (Hy Cao)
     “Ái ưu tấc dạ, người há đành làm việc dễ (ấy) ru? Huống đương lúc khắp năm châu thánh triết ruôi dong, ngày tháng anh hùng đâu chịu thế?

     Di chúc mấy lời, ta rất cảm về câu nói ấy! Kìa thử xem mấy trăm năm khí dân dồn chứa, gió mây Đông Á mới từ đây”.
  
   (Thai Sơn)
     Khi ông qua đời, mộ của ông được chôn ở gần vũng đầm cạnh một bãi đất cát lớn tại An Hải (Côn Đảo). Mộ ông không có bia nên các bạn tù mỗi khi đi làm về thường nhặt các viên gạch bể khắc lên chữ “Tiểu La 1911” khi đi ngang qua ném lên mộ ông để đánh dấu. Nhờ thế mà 46 năm sau (4-1957), ông Nguyễn Hoàng Huân, cháu nội thứ của Tiểu La mới có thể tìm ra ngôi mộ của ông nội mình để đưa về an táng tại quê nhà mặc dù cát biển đã vùi lấp hết đống gạch làm dấu.
     Ngày 24-7-1957, lễ truy điệu Tiểu La được tổ chức rất long trọng tại nhà thờ ông ở làng Thạnh Mỹ (ấp Quý Thạnh, xã Bình Quý, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam) với sự có mặt đầy đủ con cháu nội ngoại và các thân hào nhân sĩ xứ Quảng.
     Sự nghiệp thơ văn:

     Trong Thi tù tùng thoại, Huỳnh Thúc Kháng kể rằng, những ngày ở Côn Đảo, Tiểu La bình sinh chủ yếu lưu tâm đến thực học, không hay làm thơ văn, song thỉnh thoảng những khi có cảm xúc ông cũng làm một đôi câu. Nhưng những câu thơ của ông khác hẳn với bọn văn sĩ thông thường vì trong bụng ông có súc tích sẵn nên khi nói ra rất lý thú, không phải như phường ruột trống, không đau mà rên. Huỳnh Thúc Kháng kể, lúc mới dò nghe kết án, có tin đồn rằng án chung thân thì đày ra Côn Đảo, còn án khổ sai 9 năm thì bị đày đi Lao Bảo nên Huỳnh Thúc Kháng nghĩ rằng, Tiểu La bị án 9 năm thì chắc chắn sẽ đi Lao Bảo, không cùng đi Côn Đảo với cụ. Do đó, trong lúc anh em bạn tù có làm thơ tiễn mấy người đi Côn Đảo, Tiểu La vỗ vai cụ và bảo: “Đồng thị thiên nhai lộ bất đồng” (tức: Đồng cảnh ven trời lại khác đường). Huỳnh Thúc Kháng vỗ tay khen hay và nói: “Thôi, 7 chữ đủ rồi, không cần làm trọn bài nữa”. Tiểu La có bài vịnh ‘Con cóc’ 14 chữ cũng hay: “Thiên địa bất bình nan bế khẩu. Phong vân vị chí thả mai đầu” (tức: Trời đất bất bình khôn ngậm miệng. Gió mây chưa đến hãy chua đầu). Phan Bội Châu thích nên thường đọc luôn.30
     Ngày 18-8-1911, nhân đúng 3 năm Tiểu La và các đồng chí của ông đặt chân lên Côn Đảo. Các ông đã lấy 7 chữ “Ngày này năm ngoái đến Côn Lôn” để họa thơ làm kỷ niệm. Bài thơ của Tiểu La viết:
     Ngày nay năm ngoái tới Côn Lôn,

     Mưa gió trời thu để đoạn hồn.

     Như tớ, suy đồi lòng chửa chết,

     Ấy ai khẳng khái khí đang còn.

     Gió mây tráo chác trăm hình đổi,

     Trời đất vần xoay một quặng tròn.

     Cao ngất đàn thi cờ phất đấy,

     Thẹn nghe cửa sấm, trống khua dồn!
31
     Trước khi qua đời, ông có ghi bài thơ vĩnh biệt đồng chí của mình được Huỳnh Thúc Kháng dịch như sau:
     “Thời cuộc xoay vần, cơ hội tốt sẽ đến, giông mây Đông Á, sau này còn nhiều cuộc biến đổi, anh em gắng lên!”.

     Sau ông lại có bài thơ:
     Một  việc chưa thành tóc nhuộm màu,

     Non sông ngoảnh lại thẹn mày râu.

     Vá trời thiếu sức bàn nghe dễ,

     Cứu thế không tài tránh ở đâu?

     Cuộc biến ngại gì mây đổi sắc,

     Tình người e nỗi sóng thêm sâu.

     Mở toang hai mắt xem trời đất,

     Sau nữa mười năm vẫn thế ru.
32
     Còn cụ Phan Bội Châu cho biết, Tiểu La Tiên sinh hay chăm việc nước, ít làm thi văn, song thỉnh thoảng có làm đôi bài, trong đó có những câu kỳ quặt, tôi có đọc thi tập Tiên sinh nhớ được mấy câu như sau:
     Chơi kinh thành Huế có câu:
     Lâu đài còn dấu năm xưa

     Khắp nơi tiếng học bây giờ lạ tai.

     Đi thuyền ngẫu tác có câu:
     Một hàng cò đón đầu non

     Vái chào dưới gió sóng cồn tiễn đưa
    
Thay lời kết:
     Hơn một thế kỷ trôi qua, kể từ ngày Tiểu La Nguyễn Thành qua đời nơi Côn Đảo, nhưng những đóng góp to lớn của Tiểu La đã chứng tỏ ông là một trong những yếu nhân quan trọng của phong trào cần vương Quảng Nam, là người khai sáng và lãnh đạo Duy Tân Hội, đảng cách mạng cứu nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Viết về cụ khó có bút mục nào viết cho tường tận, đầy đủ, tôi chỉ xin mượn bài thơ của thân sĩ Thăng Bình tại lễ truy điệu Tiểu La năm 1957 để tạm kết bài viết mình:
     Tuổi trẻ Cần vương sớm nổi danh

     Gói tròn thao lược ẩn non xanh

     Nhân tài kết nạp trong ngoài đủ

     Chánh đảng tham gia kế hoạch rành

     Thời cuộc bấm tay nhiều dữ kiện

     Gian thần nể mặt lối tri binh

     Anh hùng thảo dã khi nào thiếu

     Trí dũng như ông lắm một mình.
V.V.H


     CHÚ THÍCH:
     1 Cụ là con trai thứ của quan nên có hàm Ấm tử nên người trong vùng thường gọi cụ là ông Ấm Hàm. Năm Ất Dậu (1885), cụ tham gia Nghĩa hội Cần vương, sau khi Cần vương tan rã, cụ đổi tên là Nguyễn Thành, lấy biệt hiệu Tiểu La để tiếp tục hoạt động cứu nước.
     2 Cao Xuân Dục. Quốc triều hương khoa lục. Nxb Lao động - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2011, tr. 334.
     3, 4, 6, 27 Nguyễn Thanh Dân. Tiểu La Nguyễn Thành nhà ái quốc và cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Hoa Kỳ, 2002, tr. 12, 14-15, 28, 185.
     5, 7, 9, 10, 12, 23, 30, 31, 32 Chương Thâu - Phạm Ngô Minh (Sưu tầm và biên soạn). Huỳnh Thúc Kháng tuyển tập. Nxb Đà Nẵng, 2010, tr.1574, 1574, 1574, 1575, 1575, 711-712, 722-723, 803, 833.
     8, 13, 14, 15, 18, 19, 21, 28, 29 Chương Thâu (Sưu tầm và biên soạn). Phan Bội Châu toàn tập (Tập 6). Nxb Thuận Hóa, Huế, 1990, tr. 65, 65-66, 66, 73-74, 76-77, 78, 98-99, 417, 338-340.
     11, 16, 17 Chương Thâu (Sưu tầm và biên soạn). Phan Bội Châu toàn tập (Tập 3). Nxb Thuận Hóa, Huế, 1990, tr. 163, 169, 170.
     20 Đặng Đoàn Bằng. Việt Nam nghĩa liệt sử (Tôn Quang Phiệt dịch và chú thích). Nxb Văn học, Hà Nội, 1972, tr. 27.
     22 Nguyễn Văn Xuân. Phong trào Duy Tân. Nxb Lá Bối, sài Gòn, tr. 183.
    24, 25 Châu Yến Loan. “Tiểu La Nguyễn Thành - Những năm tháng lưu đày tại Côn Đảo”. Nghiên cứu Lịch sử xứ Quảng. Số 1-6/2012, tr. 57-58, 58.
     26 Nguyễn Thế Anh. Phong trào kháng thuế ở miền Trung qua các châu bản triều Duy Tân. Nxb Văn học, 2008, tr.49- 58.

     TÀI LIỆU THAM KHẢO:
     1. Nguyễn Thế Anh. Phong trào kháng thuế ở miền Trung qua các châu bản triều Duy Tân. Nxb Văn học, 2008.
     2. Đặng Đoàn Bằng. Việt Nam nghĩa liệt sử (Tôn Quang Phiệt dịch và chú thích). Nxb Văn học, Hà Nội, 1972.
     3. Nguyễn Thanh Dân. Tiểu La Nguyễn Thành nhà ái quốc và cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Hoa Kỳ, 2002.
     4. Cao Xuân Dục. Quốc triều hương khoa lục. Nxb Lao động - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2011
     5. Nguyễn Sinh Duy. Quảng Nam và những vấn đề lịch sử. Nxb Văn học, 2013.
     6. Nguyễn Sinh Duy - Võ Văn Đặng - Phương Vân - Nguyễn Ngọc Chung (Sưu tầm và biên soạn). Nguyễn Duy Hiệu (1847 - 1887). Nxb Đà Nẵng, 1997.
     7. Nguyễn Q. Thắng. Trần Văn Dư với phong trào Nghĩa hội. Nxb Văn hóa Thông tin, 2001.
     8. Chương Thâu - Phạm Ngô Minh (Sưu tầm và biên soạn). Huỳnh Thúc Kháng tuyển tập. Nxb Đà Nẵng, 2010.
     9. Chương Thâu (Sưu tầm và biên soạn). Phan Bội Châu toàn tập (Tập 3). Nxb Thuận Hóa, Huế, 1990.
     10. Chương Thâu (Sưu tầm và biên soạn). Phan Bội Châu toàn tập (Tập 6). Nxb Thuận Hóa, Huế, 1990.
     11. Trần Trọng Khắc. Năm mươi bốn năm hải ngoại. Cơ sở ấn loát Xây dựng, Sài Gòn, 1971.
     12. Châu Yến Loan. “Tiểu La Nguyễn Thành - Những năm tháng lưu đày tại Côn Đảo”. Nghiên cứu Lịch sử xứ Quảng. Số 1-6/2012.
      13. Hồ Ngận. Quảng Nam xưa và nay (Di cảo). Nxb Thanh niên, 2004.
     14. Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch. 100 năm phong trào chống thuế Quảng Nam. Quảng Nam, 2008.
      15. Nguyễn Văn Xuân. Phong trào Duy Tân. Nxb Lá Bối, Sài Gòn, 1970.

V.V.H

Các tin khác:

CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ








Thông báo
















Thống kê truy cập

00006206067

Hôm nay: 38
Hôm qua: 3753
Tháng này: 65374
Tháng trước: 99301
Năm này: 873025
Số người đang Online: 37