CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM (20/11)!
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Danh nhân Thăng Bình

Trương Bá Huy (? - 1918)

Tác giả: Võ Văn Hoàng Ngày đăng: 9:02 | 08/03/16 Lượt xem: 1745

Trương Bá Huy, hiệu Phước Âm, sinh vào năm nào không rõ, người làng Phước Ấm, tổng Phú Mỹ Trung, huyện Lễ Dương, tỉnh Quảng Nam, nay là xã Bình Triều, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.

     Thi cử:
     Năm Bính Ngọ Thành Thái thứ 18 (1906), Trương Bá Huy thi đỗ tú tài. Trong khoa thi năm này, hai viên chánh và phó chủ khảo là Tạ Tương (chủ khảo) và Án sát Quảng Nam là Từ Thiệp (phó chủ khảo) chủ trương ăn hối lộ, ai nộp tiền thì cho đỗ còn ai dù học giỏi nhưng nhà nghèo thì cũng bị đánh hỏng,... Trước sự nhũng nhiễu của quan lại trường thi, Dương Thưởng1 lúc bấy giờ là con nhà nghèo nhưng rất siêng học, tính tình lại hết sức khảng khái, được các bạn đồng học trọng tình đều tặng cho cái tiếng “Nguyên phương Quý phương” đã cầm đầu nhóm sĩ tử trường thi đâm đơn kiện chánh, phó chủ khảo. Triều đình cho phúc khảo, kết quả Dương Thưởng được chấm đỗ tú tài còn một số cử nhân bị truất xuống tú tài. Ở huyện Thăng Bình trong khoa thi này có 4 người được phúc khảo và đỗ tú tài là Trương Bá Huy, Ngô Đạm, Nguyễn Phan Tuân và Võ Chất.
     Vụ kiện này được sách Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn cho biết: “Năm ấy thi Hương. Sĩ tử có nhiều người làm đơn kêu với Cơ mật viện và Tòa sứ (đều nói quan trường thiên vị cẩu thả, lấy bỏ không tinh, có người đáng được lấy đỗ thì bị đánh rớt, có người bị đánh rớt thì được lấy đỗ, lại thêm chuyện họ hàng của quan trường dự thi vân vân). Đến khi ba nha phúc duyệt, bàn bạc truất bỏ và lấy thêm (truất 3 Cử nhân, 3 Tú tài, lấy thêm 1 Cử nhân), Khâm sứ đại thần Levecque nói nên đặt hội đồng xét đơn tố cáo các khoản để biết hư thực, Cơ mật viện bèn tâu lên. Chuẩn cho Hiệp biện đại học sĩ Cao Xuân Dục cùng Quản lý Tòa Khâm sứ Xa, Đốc học trường Quốc học Nordemenn, Hội biện bộ Lại Tô Lăng và Thị độc hậu bổ Nguyễn Tiển sung làm hội viên. Sau đó trích quyển thi của Cử nhân (11 người), Tú tài (33 người) và bị đánh rớt (19 người) đệ qua, hội đồng duyệt nghĩ các khoản (một khoản: phân biệt xét xử quan trường, một khoản: giáng 8 Cử nhân bọn Tôn Thất Mịch, truất 19 Tú tài là bọn Trần Di, một khoản: lấy thêm 8 Tú tài là bọn Hồng Thúc Huệ) đưa qua Cơ mật viện bàn bạc thi hành. Bề tôi Cơ mật viện bàn nói hội đồng duyệt lại là để tỏ rõ sự công bằng, duy truất bỏ quá nhiều cũng là ý mới. Khâm sứ đại thần đáp nói khoản ấy quan trường lấy bỏ không tinh, đã vâng chuẩn cho hội đồng tra xét duyệt lại, việc đã rõ ràng đúng sự thật, nếu không theo đó mà làm thì chỉ nên đình bãi tất cả Cử nhân, Tú tài khoa này. Đến khi phiến tấu dâng lên, vua phê “Ý ta cũng thế. Quan trường là triều đình chọn ra mà còn đáng than thở như thế”. Bề tôi Cơ mật viện bèn bàn bạc theo từng khoản chiểu luật nghĩ xử, chuẩn sao ra cho thi hành (Chủ khảo tạ Tương, Phó Chủ khảo Từ Thiệp vì không làm tròn chức trách, lấy bỏ thiếu tinh, chiểu luật Cống cử không đúng người đều đánh 80 trượng, theo phép công giáng hai cấp lưu. Giám sát trường vụ Nguyễn Văn Quỳ vì con trai, con rể dự thi, lạm dự vào hàng sĩ tử mà không biết phát giác tra xét, chiểu lệ Bao che giáng ba cấp rời chức, trở đi không được bổ dụng lại. Hậu bổ Thừa Thiên Phạm Đôn, Tạ Hàm (con Tạ Tương) dụ dỗ sĩ tử lấy tiền, đều chiểu lệ Có việc làm xấu xa, Đôn thì phạt đánh 100 trượng cách chức cho về nguyên tịch, hàm thì châm chước giảm tội giáng ba cấp lưu, triệt hồi hậu bổ. Đề tuyển Đào Mẫn chiểu lệ Thất sát giảm tội giáng xuống Lại phòng tam đẳng giáng một cấp lưu. Thuộc viên thuộc Cơ mật viện Phan Thanh Toại vì có thân thích can dự muốn miễn tội kêu xin, chiểu lệ Thêm bớt công văn vì việc tư giáng một cấp rời chức. Tham tri bộ Lễ Nguyễn Gia Thụy vì ăn nói sơ suất về đơn kiện của sĩ tử, chuẩn truyền chỉ thân sức một lần.2
     Tham gia Phong trào kháng thuế năm 1908:

     Cũng trong những năm đầu của thế kỷ XX, đời sống của người dân nước ta hết sức cơ cực bởi sau khi xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp đã ra sức vơ vét tài nguyên và bóc lột nhân dân. Chúng còn đưa ra nhiều loại thuế mới, chủ yếu đánh vào người nông dân. Năm 1892, Toàn quyền Đông Dương là De Lanessan lại quy định thêm một số thuế gián thu mới như thuế tiêu thụ rượu, thuế thuốc phiện, muối, diêm, dầu hỏa, thuốc lá, cau,… Lúc đầu chúng quy định toàn bộ số tiền thu được từ các loại thuế gián tiếp thu sẽ chia làm hai phần, một phần nhập vào ngân khố của Triều đình Huế, phần còn lại thuộc “Ngân sách bảo hộ”. Nhưng đến năm 1893, số nhập vào ngân khố Triều đình Huế chỉ còn lại 1/3 và chỉ một năm sau (1834) thì ngân khố triều đình hoàn toàn bị sáp nhập vào “Ngân sách bảo hộ” của chính quyền Pháp.3 Bên cạnh đó, ngày 30 tháng 10 năm 1897, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định quy định lại chế độ lao dịch (đi làm xâu hay sưu) ở Trung Kỳ, làm cho đời sống của người dân vốn đã cơ cực nay lại cơ cực hơn.
     Trong Thư gửi Toàn quyền Đông Dương vào ngày 01 tháng 10 năm 1906, Phan Chu Trinh đã nêu lên tình trạng của Việt Nam thời đó, ông cho rằng, từ khi Pháp sang bảo hộ nước ta đến nay, “nghề làm ăn thì (Chính phủ Pháp - TG) không dạy bảo, lối lợi thì không mở mang, chỉ biết sưu thuế thì tăng cho nhiều, bây giờ cùng khốn đến thế này, tại quan lại làm hại dân, mười phần độ năm sáu, mà vì sưu thuế nặng nề thì mười phần đến ba bốn. Nước Việt Nam mấy nghìn năm nay chỉ trông vào nghề làm ruộng, việc chăn nuôi cùng dâu tằm cũng chưa thành nghề riêng, còn nghề công, nghề thương thì đành thua kém nhiều”.4 Đồng thời Pháp “bắt cầu, sửa đường, xây đồn lập ải cho đến lương bổng của quan lại cũng tăng lên, chi tiêu tốn kém kể hàng mấy trăm vạn, mà số tiền thu vào trừ các ngạch thuế Thương chính ra thì chỉ trông chờ vào thuế đinh, thuế điền,… Lại lấy cớ quan lại không tài cán gì, nhân dân lại hay lừa dối, không cần hỏi đến ruộng rộng hay hẹp, tốt hay xấu, đinh nhiều hay ít, giàu hay nghèo, cứ nhất luật mà lấy thuế, năm nay thêm một phần, sang năm thêm một phần, năm nay gia một khoản, sang năm gia một khoản”.5 Điều này cũng được E.Jolly trong bài “Những sự việc xảy ra ở Trung Kỳ” đăng trên báo Avenir du Tonkin (Tương lai Bắc Kỳ) số 3934 ra tháng 4 năm 1908 đã viết: “Mặc dù đã có lời hứa là thuế sẽ được giữ nguyên ở mức đã quy định nhưng đến năm sau thì thuế lại tăng và những năm kế tiếp lại cứ tăng thêm đều đều”.6 Bên cạnh đó thì sự bóc lột của quan lại Nam triều cũng không kém, vì muốn thăng quan tiến chức, vì muốn làm giàu mà họ đã không từ một thủ đoạn nào để bóc lột đồng bào của mình.
     Trước sự chèn ép và bóc lột của chính quyền thực dân cũng như quan lại của chính phủ Nam triều đã làm cho nhân dân ngày càng phản ứng gay gắt. Ở huyện Thăng Bình (tỉnh Quảng Nam), viên Tri phủ là Trần Văn Thống - Đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ năm Tân Sửu (Thành Thái năm thứ 13 - 1901), là quan phụ mẫu nhưng lại không lo cho dân, có những việc làm đi ngược lại quyền lợi của dân nên bị nhân dân oán ghét. Họ châm biếm Trần Văn Thống bằng câu ca: “Họ là Trần việc chẳng phong trần. Tên là Thống người không thể thống”. Với những việc làm sách nhiễu dân chúng, Trần Văn Thống bị Nguyễn Thục - đương kim lý trưởng làng Lạc Câu vận động nhân dân trong xã cùng nhiều xã khác đệ đơn kiện đến mức Trần Văn Thống bị đổi ra làm Tri huyện Điện Bàn và thay vào đó là Lê Bá Đằng. Lê Bá Đằng nguyên trước làm Tri phủ Điện Bàn, khi ở Điện Bàn, Đằng cũng bị nhân dân hăm dọa “khiêng gánh đi trả” cho cấp trên. Khi vào làm Tri phủ Thăng Bình, Đằng cũng có những việc làm làm cho nhân dân vô cùng căm phẫn.
     Trước sự bóc lột của chính quyền thực dân cũng như quan lại Nam triều đã dẫn đến phong trào xin xâu chống thuế ở Quảng Nam và sau đó lan rộng khắp các tỉnh thành miền Trung. Nguyên nhân dẫn đến cuộc xin xâu chống thuế của nhân dân Quảng Nam nói chung, Thăng Bình nói riêng được Phủ Phụ chính đại thần của Triều đình Huế trong các bản tâu triều Duy Tân nêu ra thì có hai nguyên nhân chính: một là do các quan bê trễ công việc, không nắm bắt được dân tình; hai là do sự điều chỉnh chế độ công sưu và hình thức nộp tiền thay vì phải đi lao dịch. Chính vì vậy, đã góp phần dẫn đến cuộc biểu tình vĩ đại hay “chính biến kháng sưu”, được người dân Quảng Nam gọi là “cúp tóc xin xâu”.
     Cuộc tranh đấu ban đầu nổ ra ở huyện Đại Lộc do ba sĩ phu là Lương Chân, Hứa Tạo và Trương Hoành lãnh đạo, “nhân trong một đám giỗ ở làng Phiếm Ái (nay thuộc xã Đại Nghĩa), sau khi ăn uống no say, nổi hứng lên bàn chuyện sưu cao, thuế nặng rồi rủ nhau làm đơn lấy chữ ký của các làng xã trong huyện, tới trình quan huyện để chuyển đạt lên Tỉnh đường Quảng Nam ở La Qua (Điện Bàn) và Tòa Công sứ Pháp ở Hội An để xin giảm nhẹ sưu cùng các món thuế”.7 Đêm ngày 9 tháng 3 năm 1908, tráng dân ở các xã thuộc tổng Đức Hòa Thượng - phía Tây Đại Lộc bắt đầu lên đường kéo xuống huyện. Huyện sợ quá, chạy xuống báo tỉnh. Dân nghe thế, sợ quan không hiểu hết đầu đuôi, lại thành vạ nên kéo nhau xuống tỉnh và tòa để bẩm báo cho rõ. Dọc đường đi, người ở hai bên đường nghe nói đi xin giảm sưu thuế nên đã hưởng ứng cùng gia nhập nên đoàn biểu tình mỗi lúc một đông. Trong Vụ chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, Huỳnh Thúc Kháng miêu tả: “Nhân dân các phủ huyện trong tỉnh, khoai mo cơm gói, quần sách áo mang, kéo đi từng đoàn ra phố (Hội An) thay nhau kẻ ở người về, cơm tiền giúp nhau. Nhiều người bàn tán: Ở phố, Tòa đã đông lắm, nay ở phủ huyện nào vây quanh phủ huyện nấy, không phải kéo đi phố nữa”.8 Phong trào đã nhanh chóng lan rộng khắp các phủ, huyện trong tỉnh Quảng Nam và lan sang các tỉnh khác ở Trung Kỳ.
     Tại Thăng Bình, ngày 26 tháng 3 năm 1908, dưới sự chỉ huy của Hương Quần, Hương Cảnh và Trương Bá Huy, đông đảo quần chúng nhân dân đã kéo đến bao vây phủ đường Thăng Bình yêu cầu Tri phủ Lê Bá Đằng cùng đi xin xâu, nhưng y sợ quá nên bỏ trốn. Lính gác trong phủ đã nổ súng làm một số người bị thương. Cũng trong Vụ chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, Huỳnh Thúc Kháng cho biết: “Phủ Thăng Bình. Tri phủ là Lê Bá Đằng khi ở Điện Bàn đã bị dọa khiêng trả, mới đổi vào. Dân họp đông vào yêu cầu quan đi xin sưu. Lính về gác phủ bắn dọa, vài người dân bị thương. Lãnh tụ đám dân là Hương Quản bị bắt”.9 Sau đó, phong trào cự sưu kháng thuế của nhân dân Quảng Nam nói chung, Thăng Bình nói riêng bị dập tắt, lãnh đạo của phong trào ở Thăng Bình là Hương Quần, Hương Cảnh và Trương Bá Huy đều bị bắt.
     Lưu đày nơi Côn Đào:

     Ngày 11 tháng 5 năm Mậu Thân (tức ngày 9-6-1908), một phiên tòa do Hồ Đắc Trung - Tổng đốc Quảng Nam thành lập tại làng La Qua, phủ Điện Bàn để xử Trương Bá Huy và những người có liên quan đến phong trào cự sư kháng thuế. Ngày 20 tháng 7 năm mậu Thân (tức ngày 16-8-1908), viên Khâm sứ Pháp ở Trung Kỳ tại Huế duyệt y án. Nội dung bản án được lược trích như sau:
     “Ngày mồng 3 tháng 8 năm Duy Tân thứ 2 (tức ngày 29-8-1908).
     Phủ Phụ chính chúng thần đẳng tấu: ngày tháng 6 năm nay, tiếp tỉnh Quảng Nam lãnh Đốc thần Hồ Đắc Trung vựng tư bản án như sau:
     …Trương Huy (tức Trương Bá Huy), Lê Dư càn quấy diễn thuyết, mỗi nơi chỉ trích, phỉ báng quan lại… Xét bọn này: hội thương thì nhiều người ký vào hợp cổ, diễn thuyết thì nói càn quốc sự, là có can phạm phép nước,… Cẩn án luật mưu bạn: phàm mưu bạn, chỉ là cùng mưu, không phân thủ tùng, đều trảm; nếu mưu mà chưa làm, thì vi thủ giảo, vi tùng (không phân nhiều ít), đều xử trượng, đày 3.000 dặm; biết (chưa làm) mà không thú, trượng 100, đồ 3 năm (chưa làm thì việc còn ẩn bí, nên không nói là cố ý dung túng ẩn tàng). Nhưng xét Phan Châu Trinh đã vâng án nghị xử tử, phát đi Côn Lôn; Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyện, xin cùng Phan Châu Trinh đồng định tội xử tử, phát phối Côn Lôn; vi tùng là Lê Bá Thuần, Nguyễn Đình Tán, Nguyễn Thành và Trương Bá Huy, xin đều xử trượng 100, đày 3.000 dặm, phát giao biệt xứ phối dịch; Lê Diện, Mai Dị, Nguyễn Bá Trác, Phan Hoài, Đặng Huyến, Lê Vỹ, Mai Luyện, Nguyễn Nhự, Võ Kiền, Lê Lượng và Lê Cơ xin đều xử trượng 100, đồ 3 năm…”.10
     Ngày 15 tháng 8 năm Mậu Thân (tức ngày 10-9-1908), Trương Bá Huy cùng các cụ khác tất cả 8 người đều mang gông xiềng bị đưa lên một toa xe lửa bít bùng chở ra Đà Nẵng để xuống tàu thủy vào Sài Gòn rồi đi đày nơi Côn Đảo. Trong Thi tù tùng thoại, Huỳnh Thúc Kháng cho biết: “Lúc ấy bị phát đi Côn Lôn, tôi cùng mấy ông Cử nhân Phan Thúc Duyện, Ấm sanh Nguyễn Thành (Tiểu La), Cử nhân Lê Bá Trinh, Tú tài Trương Bá Huy, Dương Phụ Thạch cùng Hương Cảnh (Phước Yên - TG) và Hương Quần (Địch Thái - TG)”.11
     Lên tàu thủy đậu ở bến Sông Hàn, 8 cụ bị quan Pháp đưa ra bong tàu phía sau thì đã có 9 đồng chí là người Nghệ Tĩnh đều mang gông xiềng. Khi chỗ ngồi của các cụ mới xuống tàu đã ổn định thì làm quen với nhau, mới biết tàu này chạy từ Bắc vào, trong số đó có cụ Ngô Đức Kế và Thái Sơn Đặng Nguyên Cẩn. Đến 8 giờ tối thì ở Thừa Thiên đưa thêm vào cụ Lê Đình Mộng. Đêm ấy, tàu rời bến Đà Nẵng, trưa hôm sau cập bến Thị Nại (Quy Nhơn) để nhận thêm tù nhân của hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định. Một đoàn người gông cùm xiềng xích kéo nhau lên tàu. Kể cả thân sĩ và dân mấy tỉnh cùng bị đi đày trong chuyến tàu này là 27 người, mà văn hào chiếm gần 20 người.
     Trong lúc Trương Bá Huy cùng những chí sĩ yêu nước khác bị đưa vào Sài Gòn chờ ngày ra Côn Đảo thì tại Huế, ngày 17 tháng 8 năm Duy Tân thứ 2 (tức ngày 12-9-1908), Phủ Phụ chính đại thần tấu trình lên vua đề nghị các tỉnh thành niêm yết danh sách và tội danh của 27 tù phạm bị đày ra Côn Đảo cho nhân dân cùng biết. Bản tấu được lược trích như sau:
     “Phủ Phụ chính chúng thần đẳng tấu về các khoản tù phạm can các tội nặng thông giao với giặc, hành động càn quấy, nghị phát Côn Lôn, thông tục châu tri.
     Vâng chiếu tiết thứ bọn hiếu sự các tỉnh rủ làm việc phi pháp, các tù phạm đã vâng xử tấu lên lục biện đều tại án.
     Kỳ hội thương ngày 28 tháng trước, tiếp quý Khâm sứ đại thần Lê Viết thương rằng: trích đem hai mươi bảy tù phạm tình tội nặng, phát phối Côn Lôn,…
     Phủ đẳng thần liệt kê các phạm ấy can về khoản gì, biên thương như sau:
     …17. Trương Bá Huy: can án như trên;….
     Sau đó tiếp Quý Tòa phúc y, Phủ thần đẳng đã điện cho các tỉnh quan giải phát.
     Kỳ hội thương ngày mùng 10 tháng này, tiếp quý tân Khâm sứ đại thần Cờ Rô Lô thương rằng: kỳ này đã lựa chọn các tên trọng tù giải phát Côn Lôn phối dịch, về tội trạng, án lý, nhờ do Phủ đẳng thần đem nguyên án nghị xử chúng can về tội danh gì, tư cho các tỉnh hạt có náo động khi ấy, niêm yết nhân dân châu chi, để có sự răn dạy,…
     Phủ thần đẳng vâng xét: phản nghịch thì pháp luật không dung, thuế khóa thì nhà nước có định lệ, thế mà gần đây bọn hiếu sự các tỉnh ngầm dụ hạt dân củ tụ kêu nài, mượn việc xin thuế làm danh nghĩa, kỳ thực là toan mưu nổi loạn, động phiền quốc gia một phen xử trí, đã nhiều lần nghiêm sứu, lại còn không tuân, gây nên mắc vào tội nặng, quốc pháp khó nỗi khoan dung. Nay quý đại thần thương nghị như thế là muốn cho nhân dân mọi nhà hiểu biết, không bị kẻ phiến hoặc phỉnh lừa, để cùng hưởng hạnh phúc hòa bình vậy.
     Kính xin tấu lên, hậu chỉ tuân lục các tỉnh đạo tuân liền niêm yết cho nhân dân các tổng xã trong hạt châu tri”.12
     Sau khi đến Sài Gòn, các tù nhân bị đưa vào khám lớn Chí Hòa điểm danh, cắt tóc, thay áo quần, mỗi người phải đeo vào cổ một tấm thẻ ghi số tù rồi ở lại đó. Một tuần lễ sau, Trương Bá Huy cùng các đồng chí khác bị đưa xuống tàu thủy để ra Côn Đảo. Tàu chạy khoảng 16 - 17 tiếng đồng hồ thì cập bến, đó là ngày 28 tháng 8 năm Mậu Thân (tức ngày 23-9-1908). Sau đó, hành lý, tư trang của Trương Bá Huy và các cụ được gửi vào kho, các cụ được cấp mỗi người một bộ quần áo vải xanh, một chiếc chiếu và một tấm thẻ bài, trên có in số hiệu của người tù.
     Những năm tháng bị lưu đày nơi Côn Đảo, Trương Bá Huy và các bạn tù của mình đã trải qua biết bao khổ cực, đắng cay. Thức ăn chính của người tù chủ yếu là cơm gạo đỏ với cá khô. Công việc trong tù đều được phân thành từng sở, có sở nhất định, có sở tạp dịch. Sở nhất định như thợ hồ, thợ mộc, thợ rèn, hầm gạch, sở rẫy,… Còn sở tạp dịch thì bất thường, nay xâu này, mai xâu khác, có việc thì bắt làm như xe đá, dọn tàu, đốn củi, đập đá,… Công việc nặng nhọc lại ăn uống thất thường, bị cai ngục lộng quyền đánh đập, cộng thêm bệnh dịch hoành hành nên nhiều người đã lâm trọng bệnh và bỏ mình nơi Côn Đảo.
     Tham gia Khởi nghĩa Duy Tân năm 1916:

     Tháng Chạp năm Quý Sửu (tháng 01-1914), Trương Bá Huy, Trần Cao Vân, Lê Ngung, Lê Bá Trinh, Nguyễn Hổ Khê,... được ân xá. Khi hay tin các cụ từ Côn Đảo trở về, Chí sĩ Thái Phiên cùng với Phan Hiên vào Quảng Nam để gặp Trần Cao Vân nhằm bàn bạc để tiến hành cuộc khởi nghĩa Duy Tân. Trương Bá Huy cũng tham gia vào phong trào này.
     Sau cuộc hội ngộ, Trần Cao Vân đã thảo một bức thư gởi vua Duy Tân, khơi gợi nỗi nhục mất nước, kể tội chính quyền bảo hộ và bọn chuyên quyền khuynh đảo hoàng tộc khiến vua Thành Thái bị thực dân Pháp bắt đi đày, mộ vua Tự Đức bị đào xới, vua Dục Đức, Hiệp Hòa bị truất ngôi và bị bức tử để kích thích lòng yêu nước của nhà vua. Đọc xong thư, vua Duy Tân tim não nóng như lửa đốt, ruột gan đau như dao cắt. Vua yêu cầu được gặp người viết thư và chỉ định nơi sẽ gặp.13
     Ngày 12 tháng 3 năm Bính Thìn (nhằm ngày 14-4-1916), cuộc hội kiến giữa vua Duy Tân, Trần Cao Vân và Thái Phiên diễn ra ở Hậu hồ (có sách ghi là hồ Tịnh Tâm). Giữa ba người đã tỏ bày về tình thế trong nước và hải ngoại, thời cơ nay đã đến và hoạch định kế hoạch khởi nghĩa. Kế hoạch gồm hai điểm chính: 1/ Chiếm ngay ba tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi để làm căn cứ; 2/ Tổng phát động khắp các tỉnh Trung Kỳ, từ Quảng Bình vào đến Bình Thuận. Ngoài ra, vua Duy Tân còn hứa mật dụ với đảng để tiện khởi nghĩa và khuyên nên khởi nghĩa gấp kẻo không còn cơ hội.
     Vào trung tuần tháng 3 năm Bính Thìn (tháng 3-1916), Thái Phiên cùng các nhân vật trọng yếu tức tốc mở cuộc hội nghị tại Cầu Cháy, làng Xuân Yên (Quảng Ngãi) để nghe báo về tình hình các tỉnh, kiểm điểm lại tiềm lực của đảng ở các địa phương, thảo luận ý kiến của vua Duy Tân và định ngày giờ khởi nghĩa, phân phối những người phụ trách khởi nghĩa ở các địa phương,… Ở Quảng Nam, việc khởi nghĩa được giao cho Lâm Nhĩ, Lê Tường, Hồ Cẩm Vinh, Trương Bá Huy, Phan Thành Tài, Mai Dị, Huỳnh Khâm, Huỳnh Phùng, Lê Văn Bính, Ông Văn Long, Lê Đình Dương, Quản Thái,…
     Do nóng lòng khởi nghĩa, vua Duy Tân ấn định đêm ngày 3-5-1916 sẽ tổng nổi dậy. Lập tức, một đại hội toàn kỳ của Quang Phục hội diễn ra ở kinh đô Phú Xuân (Huế) để kiểm tra lực lượng, công bố kế hoạch khởi nghĩa. Thế nhưng tên tay sai thông phán Trần Quang Trứ (thường gọi là Phán Trứ) mật báo với tòa Khâm sứ Pháp, dẫn tới cuộc khởi nghĩa thất bại. Vua Duy Tân bị cầm giữ ở đồn Mang Cá, Trần Cao Vân, Thái Phiên, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu bị tống giam ở nhà lao Huế, đại tá Lê dương người Đức là Harmandes bị thảm sát. Ở Quảng Nam, trước khi cuộc khởi nghĩa diễn ra thì đã bị lộ, lại thêm Tuần vũ Nguyễn Đĩnh phản lại đảng, tố giác âm mưu khởi nghĩa, đồng thời cung cấp danh sách của những người trong đảng nên thực dân Pháp bắt không sót người nào. Trương Bá Huy cùng nhiều đồng chí khác bị bắt và đày ra Lao Bảo  - một “địa ngục trần gian” khét tiếng lúc bấy giờ được thực dân Pháp dựng lên ở Quảng Trị, làm nơi giam giữ, tra khảo, hành hình những người yêu nước.
     Huỳnh Thúc Kháng trong Khởi nghĩa Duy tân 1916 đã cho biết kết cuộc của phong trào khởi nghĩa này mà cả vua và tôi đều phải chịu cảnh người chết, người bị tù đày, người không chịu sống nhục đã tự tử, người bị tử hình,… hết sức chua chát: “Tấn kịch này, các tôi cả triều làm án vua (án trong có câu ‘vọng thinh sàm ngôn, khuynh nguy xã tắc…’). Vua bị đày, mấy người tử hình. Thái Phiên, Trần Cao Vân, Phan Thành Tài, Khánh Kiểm (người này Hoa kiều, có cho dân mượn súng bắn ở Tam Kỳ), Nguyễn Sụy đều tử hình, tú Ngung tự tử, còn thì giam và đày rất đông, trong đó có người tên tuổi như tú tài Phạm Cao Chẩm đày ra Côn Lôn lần thứ hai chết ngoài ấy, Lê Cơ (lý trưởng Phú Lâm, tay thực hành có tiếng ở Quảng Nam đã bị án cuộc cự sưu năm 1908, nay làm một keo nữa), Lê Tiêm, cậu Khôi bị đày chết ở Lao Bảo, Lê Vĩnh Huy (cực đảng Tiểu La) chết ở nhà giam tỉnh, tú tài Trương Bá Huy bị kết án mấy năm,…”.14
     Năm 1918, nhân một vụ phản kháng bọn cai ngục đàn áp tàn bạo các tù nhân, Trương Bá Huy bị thảm sát cùng một lần với Lê Cơ, Dương Thưởng, Lê Trọng Đoàn… và các bạn tù khác.15 Mộ ông hiện nay ở thôn Hưng Mỹ (thôn 1), xã Bình Triều, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
V.V.H

     CHÚ THÍCH
     1 Dương Thưởng (? - 1918). Quê làng Chiên Đàn, huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Tam An, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam).
     2 Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên (Cao Tự Thanh dịch và giới thiệu). Nxb Văn hóa - Văn nghệ, 2011, tr. 464-465.
     3 PGS.TS. Ngô Văn Minh. Chí sĩ Lê Cơ trong phong trào yêu nước chống Pháp đầu thế kỷ XX. Nxb Đà Nẵng, 2012, tr. 134.
     4, 5 Chương Thâu (Chủ biên). Phan Châu Trinh toàn tập. Tập 2. Nxb Đà Nẵng, 2005, tr. 59, 59-60.
     6 Dẫn theo Nguyễn Q. Thắng. Phong trào Duy tân - Các khuôn mặt tiêu biểu. Nxb Văn hóa Thông tin, 2006, tr. 142.
     7 Nguyễn Văn Xuân. Phong trào Duy tân. Lá Bối xuất bản, 1970, tr. 308.
     8, 9, 11, 14 Chương Thâu - Phạm Ngô Minh (Sưu tầm và biên soạn). Huỳnh Thúc Kháng tuyển tập. Nxb Đà Nẵng, 2010, tr. 1385, 1386, 723, 1404.
     10, 12 Nguyễn Thế Anh. Phong trào kháng thuế ở miền Trung qua các châu bản triều Duy Tân. Nxb Văn học, 2008, tr. 49- 58, 176-180.
     13 Lê Ước. “Cuộc Duy tân khởi nghĩa 1916 và Phan Thành Tài (1882 - 1916)”. Tập san Sử Địa, số 11, 1968, tr. 85.
     15 Nguyễn Q. Thắng. Quảng Nam trong hành trình mở cõi và giữ nước. Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2005, tr. 471.

     TÀI LIỆU THAM KHẢO

     1. Nguyễn Thế Anh. Phong trào kháng thuế ở miền Trung qua các châu bản triều Duy Tân. Nxb Văn học, 2008.
      2. Nguyễn Sinh Duy. Quảng Nam những vấn đề lịch sử. Nxb Văn học, 2013.
     3. Nguyễn Q. Thắng. Phong trào Duy tân - Các khuôn mặt tiêu biểu. Nxb Văn hóa Thông tin, 2006.
     4. Nguyễn Q. Thắng. Quảng Nam trong hành trình mở cõi và giữ nước. Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2005.
     5. Chương Thâu (Chủ biên). Phan Châu Trinh toàn tập. Tập 2. Nxb Đà Nẵng, 2005.
     6. Lê Thí. Thăng Bình - Ngày ấy, bây giờ. Nxb Hội Nhà văn, 2013.
     7. Tây Hồ Phan Chu Trinh. Trung kì dân biến thỉ mạt ký. Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa xuất bản, Sài Gòn, 1973.
     8. PGS.TS. Ngô Văn Minh. Chí sĩ Lê Cơ trong phong trào yêu nước chống Pháp đầu thế kỷ XX. Nxb Đà Nẵng, 2012.
     9. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Nam. 100 năm phong trào chống thuế Quảng Nam. Kỷ yếu hội thảo khoa học. Quảng Nam 2008.
     10. Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên (Cao Tự Thanh dịch và giới thiệu). Nxb Văn hóa - Văn nghệ, 2011.
     11. Nguyễn Văn Xuân. Phong trào Duy tân. Lá Bối xuất bản, 1970.
     12. Lê Ước. “Cuộc Duy tân khởi nghĩa 1916 và Phan Thành Tài (1882 - 1916)”. Tập san Sử Địa, số 11, 1968.
V.V.H

Các tin khác:

CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ








Thông báo
















Thống kê truy cập

00006206056

Hôm nay: 27
Hôm qua: 3753
Tháng này: 65363
Tháng trước: 99301
Năm này: 873014
Số người đang Online: 39