CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM (20/11)!
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Danh nhân Thăng Bình

Hương Quần (...-1909)

Tác giả: Phùng Tấn Đông Ngày đăng: 8:57 | 08/03/16 Lượt xem: 1711

Hương Quần tên thật là Nguyễn Quần, Nguyễn Cò, người làng Đồng Thái, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Bình.

     Năm 1885, ông tham gia Nghĩa Hội Quảng Nam dưới trướng cụ “Cử Hội” Nguyễn Uýnh. Cuối năm 1885 tình hình Nghĩa hội Nghĩa Định (Quảng Ngãi, Bình Định) bị Nguyễn Thân đánh phá ác liệt, có nguy cơ bị tiêu diệt. Để có sự hỗ trợ lẫn nhau, Nghĩa hội Quảng Nam cử Tán tương quân vụ Nguyễn Uýnh cầm đầu một trong năm cánh quân vào phối hợp với 3 cánh quân của Nghĩa hội Quảng Ngãi - Bình Định, đánh vào huyện lỵ Bình Sơn, Quảng Ngãi. Trận đánh thắng lợi. Quân ta làm chủ tình hình huyện Bình Sơn. Lê Uyển bỏ chạy, Nguyễn Tiến Quý, Phan Trọng Di bị Nghĩa quân đánh bại. Quan binh triều đình tại Bình Sơn hoàn toàn tan rã. Đây là lần đầu tiên từ khi thành lập Nghĩa hội Cần Vương 3 tỉnh đã liên kết, hỗ trợ nhau và giành thắng lợi. Đến tháng 7 năm Bính Tuất (1866) có lệnh của Quảng Nam rút 5 đội quân về. Đội quân cụ Cử đi hậu tập, khi ra đến cầu Cháy, huyện Bình Sơn thì bị phục binh của Nguyễn Thân chận đánh, Nguyễn Uýnh hy sinh. Nguyễn Cò đã cùng Nguyễn Công Khả liều chết cướp xác chủ tướng đưa về chôn ở làng Hà Lam.
     Đến năm 1908 ông làm Hương chánh làng Đồng Thái. Cũng cần nói sơ qua chức vụ Hương chánh của ông. Theo nhà sử học Dương Trung Quốc thì: “Cho đến những năm trước khi thực dân Pháp vũ trang xâm lược nước ta, làng xã Việt Nam (chủ yếu là làng xã người Việt) vẫn theo chế độ “tự quản”. Chế độ “tự quản” này ra đời vào cuối thế kỷ XV, sau khi nhà nước phong kiến bãi bỏ chế độ “xã quan” - tức viên chức do nhà nước điều động, bổ nhiệm và trả lương để cai trị cấp xã. Chế độ “tự quản” cho phép làng - xã tự đứng ra điều hành các công việc nội bộ của làng xã, đồng thời phải có trách nhiệm đáp ứng những yêu cầu của chính quyền trung ương, như về: thuế khóa, quân dịch, tạp dịch...Nội dung của chế độ “tự quản” có thể thâu tóm qua một số nét chính sau đây:1/ Tất cả các công việc đối nội (trong phạm vi xã) và đối ngoại (giữa xã này với xã khác, hoặc giữa xã với chính quyền cấp trên) đều được giao phó cho một số người đang sinh sống tại xã hoặc có tên trong sổ đinh của xã. Số này thường được gọi chung là quan viên hàng xã; 2/ Quan viên hàng xã được tuyển lựa theo hai tập quán: vương tước (hoặc nhân tước) và Thiên tước ( hoặc xỉ).Vương tước bao gồm những người có phẩm hàm, hoặc có chức vụ trong quan trường, hoặc có bằng cấp trong khoa trường.Thiên tước bao gồm những người nhiều tuổi nhất trong xã. Cũng cần biết thêm rằng phẩm hàm được chia thành 9 bậc, và mỗi bậc lại chia làm 2 trật là chánh và tòng (hay tùng); tòng cửu phẩm là phẩm trật thấp nhất và chánh nhất phẩm là phẩm trật cao nhất; 3/ Thứ tự sắp xếp trên dưới trong hàng ngũ quan viên hàng xã cũng tùy theo tập quán của từng xã cụ thể.Xã nào trọng hoạn (quan) sẽ cử người đã hoặc đang làm quan ở cấp bậc cao nhất trong xã đứng đầu số quan viên hàng xã. Xã nào trọng khoa sẽ cử người đã có bằng cấp cao nhất (và dù người này chưa từng ra làm quan) đứng đầu số quan viên hàng xã. Xã nào trọng thiên tước sẽ cử người nhiều tuổi nhất đứng đầu số quan viên hàng xã. Trường hợp người nào có chức vụ quan trường ngang nhau, hoặc có bằng cấp khoa trường ngang nhau, hoặc có phẩm hàm ngang nhau thì việc sắp xếp người nào trên, người nào dưới lại dựa vào tuổi tác cao hay thấp - tức áp dụng nguyên tắc thiên tước; 4/ Do cách tuyển lựa trên nên số lượng quan viên hàng xã của mỗi xã không được ấn định cụ thể là bao nhiêu cho thống nhất trên quy mô cả nước. Số quan viên hàng xã nhiều hay ít tùy thuộc vào điều kiện riêng của mỗi xã - Tùy theo chức năng tập thể, số quan viên hàng xã này được chia làm 3 nhóm: kỳ mục, kỳ dịch và kỳ lão. Nhóm kỳ mục do toàn thể quan viên hàng xã cử ra. Nhóm có trách nhiệm tập thể bàn bạc, quyết định mọi công việc có liên quan đến xã. Số kỳ mục trong mỗi xã họp lại trong một tổ chức thường được gọi là Hội đồng kỳ mục, do chức Tiên chỉ đứng đầu (có Thứ chỉ phụ tá) đối với các xã miền Bắc và miền Trung; hoặc gọi là Hội Tề, do chức Hương cả đứng đầu, đối với các xã miền Nam. Tổ chức này là cơ quan quyết nghị của xã. Nó hoạt động không có nhiệm kỳ hạn định. Ngay cả khi vương triều có thay đổi thì nó vẫn tồn tại và vẫn giữ nguyên những thành viên của nó. Sự phân công, phân nhiệm cụ thể cho từng kỳ mục cũng chỉ có tính chất tương đối. Hội đồng kỳ mục (hay Hội Tề) xét kỳ mục nào có khả năng về lĩnh vực nào sẽ giao cho đảm nhận lĩnh vực đó, ví như về lễ nghi, về học hành, về trị an v.v... Lĩnh vực nào chưa có ai phụ trách riêng, đều do Hội đồng bàn bạc tập thể. Ngay cả những kỳ mục được phân công chuyên trách một vấn đề cụ thể, cũng không được toàn quyền quyết định một mình, mà chỉ được trình bày ý kiến chủ quan của mình trước Hội đồng để Hội đồng cùng bàn bạc quyết định tập thể. Bởi vậy, khi có kỳ mục nào mất, hoặc vì lý do nào đó không còn đứng trong Hội đồng nữa, cũng không cần phải bổ sung ngay người khác thay thế. Nhóm kỳ dịch là nhóm có trách nhiệm thi hành mọi quyết định của Hội đồng kỳ mục. Nó là cơ quan chấp hành của xã. Thông thường cơ quan này có Xã trưởng (hoặc Lý trưởng), Phó lý và Trương tuần...Xã trưởng là người quan trọng nhất trong bộ ba trên - vì là người trung gian liên lạc giữa xã và chính quyền cấp trên.Theo nguyên tắc, các Kỳ dịch phải do xã dân cử ra. Nhưng trên thực tế, Kỳ dịch lại do Hội đồng Kỳ mục lấy danh nghĩa xã dân đề cử. Riêng chức xã trưởng (hoặc lý trưởng) với tư cách là người trung gian liên lạc giữa xã và chính quyền cấp trên nên sau khi đã được Hội đồng Kỳ mục đề cử, còn phải được chính quyền cấp tỉnh công nhận, cấp cho mảnh bằng chứng nhận cương vị đó và giao cho giữ triện làng. Mọi văn bản lưu hành trong nội bộ xã hoặc liên hệ với các xã khác, hoặc liên hệ với cấp hành chính cao hơn, nhất thiết phải có chữ ký và dấu triện của xã trưởng (hoặc lý trưởng) thì mới được coi là có giá trị pháp lý. Nhóm kỳ lão bao gồm những người cao tuổi nhất trong xã. Tuy không trực tiếp can dự vào công việc của hai nhóm trên, nhưng nhóm kỳ lão này giữ vai trò tư vấn cho nhóm kỳ mục”(1).
     Hội đồng kỳ mục ra quyết nghị, xã trưởng phải chấp hành quyết nghị của Hội đồng để giữ “lệ làng. phép nước”. Như vậy chức Hương chánh có vai trò hết sức quan trọng trong Hội đồng kỳ mục - dù quyết nghị là của cả một tập thể kỳ mục.
     Năm 1908 do chính sách bóc lột hết sức tàn nhẫn của thực dân Pháp như cảnh thuế má  trong Bài Á tế Á ca:
     “Các hạng thuế Pháp càng tăng mãi
     Thuế đinh, điền rồi lại thuế bò
     Thuế chó củi, thuế lợn bò
     Thuế muối, thuế rượu, thuế đò, thuế xe
     Thuế tất cả, trầu, cau, chè, thuốc
     Thuế môn bài, thuế nước, thuế đèn
     Thuế nhà cửa, thuế chùa đền
     Thuế rừng tre gỗ, thuế thuyền bán buôn
     Thuế dầu mật, thuế sơn các chỗ
     Thuế gạo rau, thuế đỗ, thuế bông
     Thuế tơ, thuế sắt ,thuế đồng
     Thuế chim, thuế cá, khắp trong ba kỳ
     Nhiều hạng thuế kể sao cho xiết
     Thuế “phát-xuya” mới thiệt lạ lùng
     Nói ra luống những đau lòng
     Cha con khổ nhục, vợ chồng lìa tan
     Cũng có lúc bầm gan tím ruột
     Vạch trời cao mà tuốt gươm ra...”
     Theo đạo dụ ban hành ngày 8/1 năm Thành Thái thứ 15 (1904) thì tại tất cả 13 phủ, tỉnh và đạo ở Trung Kỳ, mỗi dân đinh (trai tráng trưởng thành) loại tráng hạng đều phải nhất loạt chịu mỗi người một năm 10 ngày sưu dịch (tức 10 ngày đi làm xâu) trong đó có 4 ngày sưu dịch dành để làm việc cho làng, còn 6 ngày làm việc cho phủ, tỉnh hoặc đạo. Đó là mức nặng nề, bởi vì với những người nông dân nghèo khổ, nếu phải tự lo mọi khoản để đi làm sưu dịch trong 6 ngày ở nơi xa làng là một việc khó khăn. Đạo dụ này sau đó không bao lâu lại được điều chỉnh: trong số 6 ngày làm sưu dịch ở ngoài làng, tráng đinh phải đi làm 4 ngày cộng hai ngày nữa được nộp tiền thay, mỗi ngày là 0$ 20. Cần lưu ý là kể từ năm 1898 trở đi, thuế thân mỗi người nộp một năm là 2$20 nên mức thu sưu dịch một ngày 0$20 là rất nặng. “Theo đạo dụ ngày 7/12 năm Duy Tân thứ nhất (1907) - mà thực chất là Nam triều theo Pháp vì ông mới lên ngôi (7 tuổi) - chế độ sưu dịch thay đổi như sau: Sưu dịch tuy vẫn 10 ngày nhưng làm tại làng chỉ có hai ngày, 8 ngày còn lại thì làm ngoài làng. Trong số 8 ngày làm ngoài làng thì có hai ngày buộc phải nạp thay bằng tiền (mỗi ngày 0$20). Đây là bắt buộc chứ không phải có thể. Đây chính là nguyên nhân trực tiếp của nỗi bất bình. Lại trong số 6 ngày sưu dịch ngoài làng còn lại, ai muốn nộp tiền thay hoặc thuê người khác đi làm cũng được. Quy định này khiến cho không ít những người nghèo phải đi sưu dịch triền miên. Mâu thuẩn xã hội nảy sinh từ thực tế ngày càng lớn”(2)
     Năm 1908 cuộc vận động duy tân do các chí sĩ Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Qúy Cáp đã khiến cho phong trào dân quyền, dân chủ của nhân dân phủ Thăng Bình lên cao. Nhân dân nô nức nghe diễn thuyết về “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, hăng hái tham gia hội thương (đầu tiên Hội buôn thành lập ở Hội An năm 1906 - theo cụ Huỳnh Thúc Kháng) sau đó đến Điện Bàn rồi hội nông ở Tam Kỳ, Tiên Phước. Theo báo cáo của Đại lý Pháp tại Tam Kỳ “Hội buôn đã chuyển thành hội học. Họ không đòi hỏi gì ở người dân tham gia hội. Thủ tục duy nhất đòi hỏi là phải cắt tóc ngắn” (Ngày 1/11/1907)(3). Báo cáo của Công sứ Quảng Nam Charles: “Hội buôn Quảng Nam mà các thành viên tự xưng là "những người cắt tóc” theo cách họ nhận biết nhau...con số gia nhập hội ở Quảng Nam ngày càng tăng. Trong phủ Tam Kỳ và Thăng Bình, nơi ở của các thành viên có ảnh hưởng lớn nhất của Hội, có những nơi, toàn xã cùng gia nhập” (Ngày 5/12/1907), “Hội kín ở Quảng Nam tiếp tục công cuộc tuyên truyền chống Pháp và tư tưởng quốc gia. Trong hai phủ Thăng Bình và Tam Kỳ họ nắm các trường học và điều hành việc dạy học” (Ngày 8/1/1908)(4). Cuộc kháng thuế, cự sưu khởi phát từ huyện Đại Lộc. “Các ông Lương Châu, Hứa Tạo, Trương Hoành bàn nhau làm đơn lấy chữ ký các làng xã trong huyện, tới trình viên huyện chuyển đạt lên tỉnh cùng Tòa sứ xin giảm nhẹ sưu cùng các món thuế, kẻo nặng quá dân không đóng nổi”(5). Theo cụ Huỳnh Thúc Kháng “Ai nấy đều tán thành, làm đơn và cầm đi lấy chữ ký mấy làng gần đấy, mới độ trên ba mươi lăm bác lý trong tổng ký, định đi lấy thêm cho đông để “quan trên” thấy rõ nỗi khổ chung của dân mà giảm đi chăng, trong đám ký tên có lý trưởng làng La Đái lén lên báo viên quan huyện, thuật lại chuyện hào lý và sĩ dân đương làm.Việc đến tai quan không thể xếp yên được và sợ để lâu quan trên theo lời tiên cáo của tên lý kia rồi không rõ đầu đuôi, buộc tội quần tụ thì to chuyện. Thôi thì cùng nhau vác đơn lên quan, trước bày tỏ tâm sự, sau nhờ quan đễn xin giúp. Đến huyện, viên huyện đã biết trước,sai lính ra truyền rằng: “Quan đã xuống tỉnh bẩm việc tụ tập đông người của các anh rồi”.Viên huyện xuống tỉnh, bọn ấy không hầu chuyện được, ngơ ngác trông nhau, kẻ nói ra về, người bàn ở đợi. Trong lúc bàn tán phân vân có vài cậu học trò đứng ta xướng nghị: “Quan đã đem việc bẩm tỉnh rồi, dầu có tan về cũng không tránh khỏi tội tụ tập đông người liên danh ký chỉ, chắc sẽ bị tra tấn lôi thôi, mang lấy cực lụy vô danh. Vậy ta cứ theo quan vác đầu xuống tỉnh kêu xin, dầu không có kết quả tốt cũng còn có danh nghĩa tỏ cùng quan trên rõ thấu thực tình xin giảm sưu thuế, chứ không có điều gì trái phép”.Thế là kéo nhau xuống tỉnh với khẩu hiệu xin sưu”(6).
     Cuộc biểu tình lan rộng từ Đại Lộc đến Điện Bàn, “đến chợ Vĩnh Điện có đến năm sáu trăm người”. Đến tỉnh, thấy đông Công sứ cho lính ngăn lại, bắt dân về, lừa bắt Trương Hoành, Hứa Tạo, Lương Châu. Viên sứ lại truyền “Nếu dân chúng không giải tán thì ba người kia sẽ bị đầy đi Lao Bảo”. Dân không chịu giải tán. Ba người kia đi Lao Bảo ngay chiều hôm ấy. Dân không chịu tan mà trái lại mỗi lâu, mỗi đông thêm.
     Sự kiện được những người buôn bán trong tỉnh từ Hội An kẻ truyền đi, người đồn lại khiến “Nhân dân các phủ huyện trong tỉnh khoai mo, cơm gói, quần xách, áo mang kéo đi từng đoàn ra Phố (Hội An) thay nhau kẻ ở, người về, cơm tiền giúp nhau. Nhiều người bàn tán: “Ở Phố, Tòa đã đông lắm, nay ở phủ huyện nào vây quanh phủ huyện nấy, không phải kéo ra Phố nữa”(7).
     Ở Điện Bàn có sự kiện bắt Tri phủ Trần Văn Thống lên xe, kéo đi xin sưu, bị lính ở Tòa sứ đàn áp ở bến đò Phú Chiêm - Thanh Hà.Ở Tam Kỳ có vụ Đề Tuệ - khi bị dân vây Phủ, Tòa Đại Lý Pháp cho lính đưa Đề Tuệ về Tòa nhưng trên đường hộ tống - nghe Trùm Thuyết hô “dân ta xin quan đại lý giao ông Đề để dân ăn gan”.Toàn đám đông đồng thanh “dạ” vang lừng. Đề Tuệ (vốn bị dân oán ghét) ngồi trên xe hộc máu gục xuống, về đến Tòa đại lý thì tắt thở.
     “Ở Phủ Thăng Bình, tri phủ Lê Bá Đằng khi ở Điện Bàn đã bị dân dọa khiêng trả, mới đổi vào. Dân họp đông và yêu cầu quan đi xin sưu. Lính về gác phủ bắn dọa, vài dân bị thương.Lãnh tụ đám dân là Hương Quần bị bắt”(8).
     Hương Quần cùng dân làng Hà Lam, Đồng Thái...tham gia cả hai sự kiện, một là vây phủ Điện Bàn, bắt tri phủ Trần Văn Thống kéo về Hội An cùng xin sưu, cự thuế với dân, hai là vây phủ Thăng Bình khiến tri phủ Lê Bá Đằng phải bỏ trốn.
     Hương Quần - là một trong rất ít kỳ mục của Quảng Nam bị bắt trong phong trào cự sưu, kháng thuế ở miền Trung. Sau này trong bài vè xin xâu có đoạn tái hiện về những ngày lao nhọc kiên cường của ông và người dân “cự sưu, kháng thuế”:
     “...Áo quần rách rưới lang thang lài xài
     Tráng dân không biết là ai?
     Học sinh, bá hộ, tú tài, cử nhơn
     Lạy trời, ông xuống chút ơn
     Để con dân nằm đường nằm sá không sợ chi roi đòn
     Ngày thời cách trở núi non
     Dặn dò sau trước vợ con ở nhà
     Cơm đùm gạo gói xuống nha
     Rủ nhau kéo hết xuống tòa xin xâu
     Quan sai lính đánh như trâu
     Chịu đau không thấu mang đầu chạy ngay
     Con roi bằng cái cổ tay
     Đánh dồn đánh dập một ngày đôi con...”
     Hương Quần bị triều đình Nam triều kết án: “Nguyễn Quần tức Cò, can rủ dân tụ tập hành hung, án xử trảm quyết, hoãn tử, phát phối”(8) (án xử chém chết nhưng hoãn, đi đày). Ông bị đày ra Côn Đảo cùng một chuyến với Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thành, Phan Thúc Duyện, Trương Bá Huy, Nguyễn Cảnh (Hương Cảnh)...vào tháng 8/1908.
     Theo cụ Huỳnh Thúc Kháng: “Sau chúng tôi ra đảo được một năm thì trong tù có phát bệnh dịch (1909). Lúc dịch mới phát, trong khám nhiều người chết, có kẻ buổi mai đi làm xâu mà buổi chiều đã chôn xác nơi mộ địa, có kẻ khiêng vào nhà thương đôi ngày mà không sống được. Trong bọn chúng tôi có lý trưởng làng Hạ Lôi (Hà Tịnh, quên tên). Hương chánh Hà Lam Nguyễn Quần (Quảng Nam), đều chết về bệnh dịch ấy”(9)
     Cụ Đặng Nguyên Cẩn (Phó bảng, người Nghệ An, bạn tù cùng năm 1908) có câu đối  viếng cụ Hương Quần:
     “Ngũ Hành Sơn nhân vật, kim thích Côn Lôn, mỗ dã nghĩa đảng, mỗ dã thân sĩ, mỗ dã hương chức, xí kỳ gian, phàm ngã đồng bào, khởi dĩ tôn ti phân đẳng cấp
     Trấp thế kỷ tân triều, hoành xung Á lục, hoặc dĩ thiệt chiến, hoặc dĩ bút chiến, hoặc dĩ lợi quyền, tranh ư hạ, lân quân nhiệt huyết, vi thùy lưu lạc đáo thiên nhai”
     Huỳnh Thúc Kháng dịch:
     “Nhân vật xứ Ngũ Hành, nay ra Côn Lôn, nầy nghĩa đảng, nầy thân sĩ, nầy hương chức xen vào trong; đều nghĩa đồng bào há lấy tôn ti chia đẳng cấp
     Tân triều kỷ hai mươi, thẳng xông đất Á, hoặc đánh lưỡi, hoặc đánh bút, hoặc vì lợi quyền tranh ở dưới; cảm người máu nóng, vì ai lưu lạc đến ven trời?”
P.T.Đ
 
     Chú thích:
     (1) Dương Kinh Quốc- Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945-NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1988 tr.190-194
     (2) Lý Thị Mai- Dẫn Châu bản triều Nguyễn thời Thành Thái-Nguyên nhân bùng nổ của phong trào kháng thuế cự sưu ở Quảng Nam năm 1908-Kỷ yếu “Phong trào chống thuế Quảng Nam”-Hội thảo khoa học-Sở VH-TT &DL Quảng Nam, 2008 tr.153-154
     (3) Báo cáo của Đại lý Pháp tại Tam Kỳ-Dẫn theo Ng Q Thắng-Quảng Nam trong hành trình mở cõi-NXB  Tổng Hợp Tp HCM 2005 tr.511-512
     (4) Báo cáo của công sứ Charles-Dẫn theo Nguyễn Q Thắng-Quảng Nam trong hành trình...-Sđd tr.515-517
     (5) Phan Châu Trinh-Trung kỳ dân biến thủy mạt ký-Dẫn theo Nguyễn Q Thắng “Phan Châu Trinh-cuộc đời và tác phẩm”-NXB Văn Học, Hà Nội, 1992, tr.228
     (6) Huỳnh Thúc Kháng-Vụ kháng thuế Trung kỳ năm 1908-Dẫn theo Thái Bạch-“Thơ văn quốc cấm thời thuộc Pháp”-Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1968 tr.369
     (7) Huỳnh Thúc Kháng-Vụ kháng thuế Trung Kỳ năm 1908-Sđd, tr.369-370
     (8) Phong trào chống thuế miền Trung năm 1908 qua các châu bản triều Duy Tân (bản dịch của Nguyễn Thế Anh-Văn Vỹ), Bộ Văn hóa Giáo dục& Thanh Niên, Sài Gòn 1973, Châu bản số 46 ngày 17/8 năm Duy Tân thứ hai, 1908, tr.149
     (9) Huỳnh Thúc Kháng-Thi tù tùng thoại, NXB Nam Cường, Sài Gòn 1951,tr.63-64
P.T.Đ

Các tin khác:

CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ








Thông báo
















Thống kê truy cập

00006206000

Hôm nay: 3724
Hôm qua: 1579
Tháng này: 65307
Tháng trước: 99301
Năm này: 872958
Số người đang Online: 72