NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM MUÔN NĂM!
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Danh nhân Thăng Bình

Bà Lê Thị Nhâm - Mẹ tiết hạnh, con hiếu nghĩa

Tác giả: Lê Thí - Phùng Tấn Đông Ngày đăng: 21:51 | 07/03/16 Lượt xem: 1560

Bà Lê Thị Nhâm (hay Nhiệm trong bia khắc tên các bà tiết phụ của Phủ Thăng Bình) sinh năm 1832, người làng Tiên Đõa, huyện Lễ Dương-nay thuộc xã Bình Triều huyện Thăng Bình. Bà là con gái ông Lê Hữu Tánh. Ông Lê Hữu Tánh là người học giỏi có tiếng của làng. Năm Tân Tỵ 1821 ông đỗ Hương cống dưới triều Minh Mạng, được bổ làm hướng đạo huyện Bình An. Từ lúc nhỏ, bà đã theo cha đến nơi ông trấn nhậm, được cha truyền dạy chữ nghĩa, cho nên bà tinh thông kinh sử, không khác gì đấng nam nhi theo nghiệp sách đèn.

     Năm 18 tuổi (1850), bà lấy ông Nguyễn Văn Chất ở làng Ngọc Phô, nay là xã Bình Tú cùng huyện. Ông Chất là một học sinh đầy triển vọng, đang ngày đêm dùi mài kinh sử, chuẩn bị trẩy kinh ứng thí. Năm 20 tuổi, bà sinh con trai đặt tên là Nguyễn Hữu Quang. Khi Hữu Quang được hai tuổi thì ông Chất đột ngột qua đời. Hàng ngày bà đều dắt con trai ra thăm mộ chồng, suốt ba năm, không bỏ sót ngày nào, dù mưa hay nắng. Khi con lên 6,7 tuổi bà bắt đầu dạy con học những bài học vỡ lòng. Năm Nguyên Hữu Quang 14 tuổi (1866) bà đem con ra làng Hà Lam, cách nhà khoảng 7 cây số, gởi nhờ Tú tài Nguyễn Thuật dạy dỗ.
     Nguyễn Thuật là người văn hay chữ tốt nổi tiếng khắp huyện, lúc này mới đỗ tú tài, đang ở nhà vừa dạy học vừa đọc sách để chuẩn bị cho khoa thi Hương sắp tới. Trò chăm lại gặp thầy giỏi, Nguyễn Hữu Quang ngày càng học hành tấn tới. Khoa thi Hương năm Quý Dậu 1873 tại trường thi Thừa Thiên, ông Quang đỗ Cử nhân. Sau đó ông được bổ làm Huấn đạo huyện Quế Sơn. Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng nghe tiếng thầy Cử Quang cũng đã từng đến thọ giáo.
     Bà Nhâm là người có nhan sắc, thông Nho học, lại nổi tiếng đoan chính nên nhiều người đến dạm hỏi xin cưới làm vợ nhưng đều bị bà từ chối. Trong làng có một tay lý trưởng nhà giàu tên là Võ Tấn Thông dù nhiều lần bị bà từ chối nhưng ỷ tiền và thế, cứ lui tới trêu ghẹo. Một lần đang lúc cầm dao xắt chuối, không nhịn được, bà nói thẳng: “Từ nay về sau nếu mày còn nói đến chuyện ấy thì tau chặt đầu ngay”. Tên lý trưởng thất kinh hồn vía, từ đó không bao giờ dám léng phéng tới nhà bà. Sau khi ông Quang đỗ cử nhân, y lại càng sợ.
     Bà nổi tiếng khắp phủ huyện là người có phẩm hạnh đoan chính, thờ chồng hết đạo, dạy con nên người. Năm Đồng Khánh thứ 2 (1887) quan tỉnh Quảng Nam tâu về triều đề nghị khen thưởng để nêu gương. Nhà vua cấp 6 lạng bạc và một tấm biển đề 4 chữ “Tiết hạnh khả phong” (Tiết hạnh đáng làm gương).Vì thế người đương thời thường gọi bà là bà Sanh Phong - nghĩa là người được phong tặng ngay khi còn sống.
     Thân hào trong tổng Phú Mỹ mừng hai mẹ con bà một bức trướng bằng gấm với một bài văn có nội dung:
     “Thân tại đại tạo! Kỳ dục kiếm vật, sự dĩ nan ma chi, canh dục quan nhân, tiên dĩ nan thí chi như đông lãnh ngột nhiên, thiên dĩ nan quân mộc dã, nhi cúc tắc xáng nhiên kỳ dật hữu như thi phù
     Viên phú bá, cúc dĩ tặng chi
     Bá thi, Tiên chỉ bá vi thuyền, thanh lại độ ngọc tuyền. Cuồng lan tuy cổn ngạn, thiên tuế nhứt phàm huyền
     Cúc thi, Ngọc đình ba tác phố, thu chi khai kim vũ, sậu võ tuy khinh bồn, diện sắc thiên chi nổ
     Phú Mỹ tổng quan thân đồng tạ
     Cụ Cử Hồ Ngận dịch:
     Khéo thay thợ tạo, muốn cho vật trước phải ma luyện khó khăn, cũng như muốn cho nên người trước bắt trải bao gian khổ, ví như mùa đông non trụi, là trời làm khó cho cỏ cây, mà cây bá thì tiết vẫn cứng rắn như vậy, mùa thu cây tàn, là trời làm khó cho bông hoa mà cây cúc thì hoa vẫn tươi tốt như thường
     Vậy kính tặng hai câu thơ cây bá và cây cúc
     Thơ cây bá
     Bến Tiên(1) thuyền bá ra khơi, buồm cao lướt sóng, chơi vơi giữa trời
     Thơ cây cúc:
     Vườn thu cây cúc sáng ngời, quản bao mưa gió, sắc trời xinh tươi
     Tổng Phú Mỹ đồng kính mừng
     Quan Tri phủ Thăng Bình(2) cũng mừng mẹ con bà một câu đối:
     “Liệt nữ phi vị danh, hoàn hữu bao phong thanh lãng tiết
     Thư thần thâm sở hạnh, tùng tư giáo tứ cổ phương phong”
     Dịch:
     “Liệt nữ há vì danh, có được sanh phong thêm rạng tiết
     Thư thần đà toại nguyện, từ đây giáo hóa được lây thơm”
      Bà mất năm 1901, thọ 70 tuổi, ông Nguyễn Hữu Quang xin từ quan về cư tang mẹ. Ông làm nhà bên mộ, hương khói suốt ba năm. Mãn tang mới thôi.
     Hàng năm đến ngày giỗ của bà, đồng môn và học trò của ông Quang đều về lễ bái rất đông. Mẹ tiết hạnh, con hiếu thảo, cả hai làng Tiên Đõa và Ngọc Phô cũng được thơm lây tiếng lành.
      Văn thánh huyện Lễ Dương có bia ghi lại tấm gương tiết hạnh, hiếu để của mẹ con bà. Tấm bia này còn để ở Tiền hiền làng Hà Lam (thị trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam). Sách “Đại Nam liệt truyện” của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi danh bà vào trang sử về “Liệt nữ”. Nguyên văn: “Người huyện Lễ Dương, tỉnh Quảng Nam. Tuổi trẻ đã biết khuôn phép. Lấy chồng là Nguyễn Văn Chất đẻ một trai tên là Hữu Quang. Được một năm Văn Chất ốm chết. Thị tuổi 20, ở góa giữ chí, phụng dưỡng bố mẹ chồng, đón Thầy dạy con, mong cố gắng thành đạt. Khi Hữu Quang thi đỗ cử nhơn, Đồng Khánh năm thứ 2 (1887), tỉnh thần đem việc tâu lên. Được nêu khen và thưởng ngân bài cùng bạc lạng.
     Hữu Quang trước đây không chịu nhơ nhớp theo ngụy phỉ được thưởng, thụ hàm Giáo thụ .Làm Huấn đạo ở huyện Quế Sơn”(3).
L.T - P.T.Đ

     Chú thích:
     (1) Bến Tiên: Bến sông ở làng Tiên Đõa. Cây bá ý chỉ bà, còn cây cúc ý chỉ ông Nguyễn Hữu Quang
     (2) Theo cụ Hồ Ngận thì đó là ông Ngụy Khắc Đản nhưng không đúng vì năm 1863 cụ Đản đã là Án sát Quảng Nam, sung làm Phó sứ trong sứ bộ đi sang Pháp chuộc lại ba tỉnh Nam Kỳ
     Đại Nam chính biên liệt truyện-Quốc sử quán triều Nguyễn-NXB Văn Học, Hà Nội 2004 tr.1015

L.T - P.T.Đ

Các tin khác:

CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ








Thông báo
















Thống kê truy cập

00005804450

Hôm nay: 1692
Hôm qua: 1974
Tháng này: 67535
Tháng trước: 85535
Số người đang Online: 60