NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM MUÔN NĂM!
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Danh nhân Thăng Bình

Nguyễn Thị Hướng - Người "Phiếu Mẫu” đất Hà Lam

Tác giả: Lê Thí – Phùng Tấn Đông Ngày đăng: 21:47 | 07/03/16 Lượt xem: 1663

Cuộc đời bà đẹp và thanh cao như huyền thoại. Bà sinh tại đất Hòa Vang trong một dòng họ khoa bảng: dòng họ Nguyễn Đức, làng Quan Nam, huyện Hòa Vang (nay thuộc thành phố Đà Nẵng). Người chú ruột của bà là Cử nhân Nguyễn Đức Phong, đỗ khoa thi niên hiệu Tự Đức 1 (1848), được bổ làm Hàn lâm viện điển tịch, thăng Án sát sứ Quảng Bình rồi Bắc kỳ tán tương quân vụ. Cha bà là Nguyễn Đức Hoan, sau ba khoa đều đỗ tú tài, mãi đến khoa Giáp Tý, niên hiệu Tự Đức 17 (1864) ông đỗ Cử nhân, được bổ Biên tu sử quán, sau đó làm tri phủ Thăng Bình, Quảng Nam.

     Người con gái đầu, Nguyễn Thị Hướng, sinh ngày 2 tháng 6 năm Kỷ Mùi (1859) được ông đem theo nơi trấn nhậm - làng Hà Lam, phủ Thăng Bình để ông vừa dạy chữ nghĩa, đạo lý làm người vừa để thay mẹ lo cơm nước cho cha. Tại đây bà sớm lọt vào mắt xanh của ông tân khoa Nguyễn Hữu Lệ, người nổi tiếng hay chữ của làng Hà Lam, vừa đỗ cử nhân khoa thi Hương năm Mậu Thìn (1868). Làng Hà Lam vốn nổi tiếng văn vật - quê hương của dòng họ Nguyễn Công với một Phó bảng Hà Đình Nguyễn Thuật và hai cử nhân Nguyễn Uýnh, Nguyễn Tạo và một Tú tài Nguyễn Suyền.
     Sau khi thi đỗ, ông Nguyễn Hữu Lệ được bổ làm Chủ sự sơn phòng sứ Quảng Nam. Chồng làm quan xa nhưng do được thừa hưởng nền giáo dục gia đình đầy đủ, truyền thống hiếu học và yêu nước của quê hương - nhất là từ tấm gương đạo đức của thân phụ và thúc phụ, bà Cử Lệ đã sớm thành người vợ hiền, người dâu thảo, được nhà chồng quý mến, bà con trong vùng nể phục. Làm quan chưa được bao lâu, năm 1880 ông Hữu Lệ qua đời đột ngột. Lúc này bà Hướng mới chỉ 21 tuổi, là “gái một con”, lại có nhan sắc và học vấn, đang thời kỳ phơi phới xuân thì, bà được nhiều người dòm ngó, đánh tiếng xin cưới về làm vợ, nhưng bà đều cự tuyệt. Bà quyết thủ tiết thờ chồng nuôi con và tham gia làm việc nghĩa. Năm 1885, hưởng ứng hịch Cần Vương của vua Hàm Nghi, Nghĩa Hội Quảng Nam được thành lập, lãnh tụ lại là một nhà khoa bảng nổi tiếng, từng trấn nhậm cơ quan của chồng lúc sinh thời, đó là Chánh sơn phòng sứ Quảng Nam, Tiến sĩ Trần Văn Dư, người làng Chiên Đàn, huyện Hà Đông - cũng là người đỗ đồng khoa cử nhân với ông Nguyễn Hữu Lệ năm 1868. Mặc dù là phận nữ, lại góa bụa nhưng bà Nguyễn Thị Hướng nhiệt tình tham gia phong trào. Bà vận động anh em ở quê nhà, làng Quan Nam, đóng góp cho đạo Nghĩa quân của Thống Hay (tướng Hồ Học) đang hoạt động ở vùng núi từ Hải Vân đến An Ngãi, Hòa Vang. Ở quê chồng, bà đóng góp tiền của cho đạo Nghĩa quân của Tán Hàm (Tiểu La Nguyễn Thành). Các lãnh tụ Nghĩa quân tôn vinh bà là “Nữ Tiêu Hà” - ý chỉ bà như Tiêu Hà thời nhà Hán, Tiêu Hà, người huyện Bái, là Thừa tướng nhà Hán. Tiêu Hà cùng với Trương Lương, Hàn Tín là "tam kiệt”-đóng góp nhiều công trạng cho sự nghiệp của Lưu Bang trong thời Hán Sở tranh hùng.
     Sau khi Nghĩa hội tan rã, do sự đàn áp, đốt phá của quân Nguyễn Thân, Quảng Nam rơi vào nạn đói dữ dội, bà cùng với vợ của Sơn phòng sứ Nguyễn Trường (thân phụ của Tiểu La) nấu cháo cứu đói, lo chôn cất những người chết.
     Khi phong trào Đông du, Duy tân ra đời (1903-1908) bà là người tham gia ủng hộ. Nhà bà trở thành nơi liên lạc của các chí sĩ, ngoài việc tiếp đãi ăn uống, bà còn cung cấp, đóng góp tiền bạc, không hề đắn đo tính toán.
     Những lần Phan Bội Châu đến Quảng Nam đều được bà sắp xếp ăn ở, liên lạc với các đồng chí, lo tiền lộ phí.Bà đã vận động nhiều người cùng bà đóng góp tiền của cho Cường Để, Phan Bội Châu, Đặng Tử Kính và các du học sinh ở Nhật.Tiểu La Nguyễn Thành, Đỗ Đăng Tuyển, Thái Phiên - những người phụ trách kinh tài cho phong trào Đông du-đều xem bà là cánh tay phải của mình.
     Công việc của bà làm rất cẩn thận, chỉ có các đồng chí biết mà thôi. Nhờ thế  hoạt động của phong trào luôn giữ được bí mật.
     Bà mất vào ngày 2 tháng 3 năm 1939, thọ 81 tuổi. Phan Bội Châu lúc này đang bị “an trí” ở Huế, có gởi một câu đối vào viếng:
     Hận ngã bất vương tôn, quốc sĩ vị thường thanh cựu nhãn
     Phùng nhân đàm Phiếu Mẫu, tuyền đài thượng đãi bạch sơ tâm
     Cử nhân Hồ Ngận dịch:
     Giận mình không phải Vương tôn, quốc sĩ  lắm phen nhìn mặt trắng
     Gặp ai cũng khen Phiếu Mẫu, tuyền đài có đợi tỏ lòng son
     Câu đối hiện còn treo ở ngôi từ đường tộc Nguyễn Hữu tại thị trấn Hà Lam.
     Người như Phan Bội Châu còn phải gọi bà là Phiếu Mẫu, đủ biết công của bà với phong trào lớn như thế nào(1).

L.T - P.T.Đ

     Chú thích:

     (1) Phiếu Mẫu là người đàn bà đập vải.Thời hàn vi, Hàn Tín được bà cho cơm ăn khi đói lã.Sau khi thành danh, Hàn Tín về lại quê, đích thân tìm đến nhà người Phiếu Mẫu để đền ơn.Trong văn học chữ Phiếu Mẫu dùng để chỉ những người có lòng tốt,. giúp người không nghĩ đến việc trả ơn về sau.

         

L.T.–.P.T.Đ

CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ








Thông báo
















Thống kê truy cập

00006019749

Hôm nay: 5387
Hôm qua: 3515
Tháng này: 91922
Tháng trước: 93608
Số người đang Online: 247