Chào mừng kỷ niệm 93 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2018)!
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Văn học - Nghệ thuật

Ngày xuân nghĩ về vẻ đẹp câu đối

Tác giả: Phan Thị Chính Ngày đăng: 18:30 | 06/02/18 Lượt xem: 579

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh

     Câu đối trên của dân gian gợi nhắc về các hình ảnh đặc trưng gắn với phong tục Tết cổ truyền Việt Nam thời xưa. Qua thời gian, có một số tập tục không còn được dùng mang tính phổ biến trong cộng đồng các dân tộc Việt nữa, nhưng nghệ thuật chơi câu đối Tết nói riêng và dùng câu đối trong đời sống nói chung vẫn còn được gìn giữ, lưu truyền trong các tầng lớp nhân dân và luôn phát huy những giá trị văn hóa riêng của nó.

Ảnh minh họa. Nguồn Internet
     Theo Từ điển Văn học Việt Nam- NXBGD- Tr. 59, câu đối là “những câu văn đi đôi với nhau theo phép đối sao cho ý, chữ và luật bằng trắc cân xứng nhau”. Câu đối thuộc thể loại văn biền ngẫu, gồm hai vế đối nhau về ý, từ loại và thanh điệu với cách dùng niêm luật chặt chẽ và các thủ pháp chơi chữ độc đáo,... nhằm biểu thị một ý chí, quan điểm, tình cảm của tác giả trước một hiện tượng, một sự việc nào đó trong đời sống xã hội. Người xưa có quan niệm rằng “Nếu thơ văn là tinh hoa của chữ nghĩa thì câu đối là tinh hoa của tinh hoa”. Mỗi câu đối được coi là một tác phẩm nghệ thuật, qui mô của tác phẩm tuy nhỏ, nhưng sức chứa, sức gợi rất lớn. Ngôn từ của câu đối được cân nhắc chọn lọc, âm điệu nhịp nhàng, hài hòa, kết cấu chặt chẽ, nhiều câu tài tình bật ra ý tưởng mới lạ đem đến cho người nghe, người đọc sự bất ngờ, thú vị. Một câu đối hoàn thiện là kết quả của tài mẫn tiệp, trí thông minh, sự nhạy cảm trong ứng xử của con người. Nó là kết tinh của tâm, tài và tình của tác giả.
     Ngày nay, “ôn cố tri tân”, ngẫm xưa để hiểu nay. Tết đến xuân về là dịp để nhắc nhớ cái thời hoàng kim của chữ Nho, các bậc tiền nhân đã cho ra đời những câu đối đặc sắc, để cùng với vẻ đẹp trang trọng của những bức hoành phi, những câu đối hay mang đậm tính thần dân tộc và có ý nghĩa giáo huấn sâu xa đã được cha ông ta dùng để trang hoàng ở gia đường, đền thờ, lăng tẩm, chùa chiền,...góp phần tạo dựng, làm nên nét đẹp truyền thống, sự tinh hoa cho văn hóa nước nhà.
     Tại Đền Hùng, nay còn lưu lại nhiều câu đối hay về truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, tri ân công đức của tiền nhân, khẳng định chủ quyền độc lập, sự trường tồn của đất nước, niềm tự tôn dân tộc,... tiểu biểu như câu đối khắc tại Đền Thượng: “Thử địa thử sơn Nam quốc kỷ/ Ngô vương ngô tổ Bắc thần tôn” (dịch: đất này, núi này là bờ cõi nước Nam/ Vua ta, tổ ta làm phương Bắc cũng nể vì).
     Vế đối “ Vua ta, tổ ta làm phương Bắc cũng nể vì” đã gợi nhắc ta về sự tài giỏi của các bậc tiền nhân, trong đó có cả những bậc danh sĩ có tài ứng đối, từng làm cho các vị vua tôi phương Bắc và sứ thần các nước phải “khẩu phục, tâm phục”. Những giai thoại về hai vị Lưỡng quốc Trạng nguyên nước ta là Mạc Đĩnh Chi ( 1280 - 1346), quan đại thần triều Trần và Nguyễn Đăng Đạo (1651–1719) quan đại thần triều hậu Lê; khi làm sứ giả sang Trung Hoa, với sự uyên thâm cùng tài ứng đối xuất thần của mình, hai ông đã khiến các vị vua đất Bắc phải thán phục và phong là Trạng nguyên của xứ Bắc triều. Như vậy, ngày xưa, trong việc ngoại giao với các nước khác, nhờ câu đối, nhiều vị sứ thần nước ta đã chứng tỏ, khẳng định được thể diện của một quốc gia, dân tộc.
     Giai đoạn từ nửa cuối thế kỷ XVIII - XIX, có thể kể các tác giả có nhiều câu đối nổi tiếng như Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ , Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến,...Trong đó, Nguyễn Khuyến là một trong những bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ và viết câu đối. Ngày nay, mỗi khi đón tết, đọc lại câu đối này của ông, chắc ai cũng hướng về quê cha đất tổ, hướng về nguồn cội tổ tiên, đặc biệt với những ai đang nơi đất khách quê người: “Ngào ngạt mùi hương, dẫu tại đất người, không mất gốc/ lung linh ánh lửa, dù xa quê cũ, chẳng quên nguồn”. Cả một không gian đón Tết cổ truyền thiêng liêng với các hình ảnh, màu sắc, hương vị gần gũi, đậm đà phong vị tết quê không chỉ được gợi lên bằng các ngôn từ ngọt ngào, trong trẻo, phép đăng đối hài hòa mà còn ở bút pháp gợi tả rất tinh tế.
     Trong thế kỷ XX, thời đại Hồ Chí Minh, để tỏ lòng tri ân sâu sắc vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc suốt đời vì nước vì dân, như nói thay cho muôn triệu trái tim, năm 1960 nhân mừng thọ Bác 70 tuổi, ông Nguyễn Văn Từ đã viết dâng tặng Người một câu đối thắm đượm nghĩa tình giữa Bác với nhân dân: “Lo vì Dân, nghĩ vì Dân, vui khổ cũng vì Dân, dốc chí thờ Dân, công Bác với Dân thiên thu bất tận/ Bố gọi Bác, con gọi Bác, cháu chắt lại gọi Bác, nối dòng theo Bác, lòng Dân mong Bác vạn thọ vô cương” .
     Ngoài những câu đối giao tiếp mang tính nghi thức, trong cuộc sống, chúng ta cũng từng được nghe, được biết đến những câu đối, các giai thoại đối đáp rất vui cho thấy tài dùng chữ rất khéo của nhân dân ta. Trong một phạm vi hẹp, xin được giới thiệu một số câu đối được dùng các dịp đón Tết, trong phản ánh cuộc sống và giao tiếp ứng xử của người Thăng Bình, Quảng Nam:
     Về câu đối mừng Tết:
     - Mừng Xuân Quý Dậu: cầu dừa (vừa) đủ 1 / Đón Tết Con Gà: chưng ít in 2. Câu đối này có 3 loại quả: mảng cầu- dừa ( vừa)- đu đủ, đối với 3 loại bánh: bánh chưng- bánh ít - bánh in. Do phát âm của địa phương “vừa” thành ‘dừa”, nên câu đối còn hàm ý về việc đón năm mới cũng chỉ “ chưng ít in”, rất đạm bạc và cầu mong về một năm mới vừa đủ ăn, rất hợp với suy nghĩ vốn khiêm tốn trong nhân dân.
     - Mừng Xuân Canh Tý, thử tý tửu 2 / Đón Tết Bính Thân, hầu thân hưu 3. Nghĩa Hán- Việt của từ “ thử: chuột, “hầu” : khỉ, hai từ này được dùng gắn với các năm con chuột và khỉ).
     Về các câu đối có các nội dung khác:
     - Tám giờ xe lửa huýt 4( huit: Tiếng Pháp nghĩa là số 8)
     - Hai cẳng gác ngay đơ 4 (deux: Tiếng pháp nghĩa là số 2)
     - Thầy cô Bình Quý quý thầy cô 2.. Chơi chữ được dùng ở vế đối là ở từ đồng âm “quý”: Bình Quý - yêu quý và quý vị. Hàm ý là ca ngợi các thầy giáo, cô giáo đang công tác tại xã Bình Quý rất yêu quý thầy cô, và cũng hàm ý rằng thầy cô dạy ở Bình Quý là quý thầy cô giáo- cách gọi trân trọng).
     - Năm 2000 đi tìm đồng đội, đồi động rồi đồi rộng tìm đâu? 2 .Vế đối này dùng liên tiếp 3 lần nói lái (đồng đội- đồi động, động rồi- đồi rộng).
     - Đi Động Khô uống trà Không độ 2. Động Khô là địa danh nằm trong Động Phong Nha (Quảng Bình), vế đối đã dùng phép nói lái Động Khô- Độ Không, trà Không độ là tên của một loại nước giải khát đóng chai.
     - Nửa làng bán hương 1/ Trăm điều nói đỏ 2. Theo nghĩa Hán- Việt “bán: nửa, “hương”: làng; “trăm”: nói, “điều”: đỏ. Tại thôn Bình Hiệp, xã Bình Phục, có nhiều hộ gia đình làm nghề hương, ai cũng mong một điều là hương của mình làm ra, sau khi được thắp lên, cháy liên tục và không bị tắt giữa chừng. Và điều tâm niệm sâu xa là mong ước cho việc làm ăn, buôn bán quanh năm luôn gặp đắt đỏ, may mắn.
     - Gái đẹp là gai sắc, gái không sắc gái chỉ là gai. 5 / Lan xinh là Lan anh (N), Lan không anh( N) Lan chỉ có La 3.. Lối chơi chữ ở đây dựa vào cấu tạo của từ, dấu thanh sắc đi với từ gai ( đánh vần là “gai sắc gái”) và các chữ ghép vần của từ: Lan ( L -a- n). Người con gái được xem là đẹp thì phải đẹp người đẹp nết, ta thường quan niệm hoa hồng đẹp bởi có gai. Nếu gái mà không sắc, không đẹp thì chỉ là cái gai trong mắt đời.Vế dưới được chọn đối lại tuy không chuẩn về thanh điệu, nhưng rất phù hợp với thầy giáo ra vế đối có người vợ tên Lan và nhắn nhủ tâm tình, pha chút hài hước rằng hãy lo chăm chút cho hiền thê của mình vì người chồng chính là trụ cột, chỗ dựa vững chắc của mỗi gia đình..
     Trong thời đại ngày nay, nhiều giá trị mới được sáng tạo từ trí tuệ siêu đẳng của con người, mở ra vô vàn cơ hội cho con người được hưởng thụ thành tựu vượt trội của khoa học và công nghệ; con người sẽ dễ dàng truy cập, lưu trữ và chia sẻ các nguồn thông tin quý giá từ câu đối qua điện thoại, internet và các mạng xã hội,...Năm mới, mọi người vẫn thường chọn các câu đối truyền thống, rất hay và ấn tượng để chúc mừng nhau: “Phúc lộc thọ tài an gia chủ/ Kiệm cần liêm chính đắc nhân tâm”; “Xuân sang cội phúc sinh nhành lộc/ Tết về cây đức trổ thêm hoa”; “Đào thắm, mai vàng khoe sắc Tết/ Tình sâu, nghĩa nặng ngát hương Xuân”; nghĩa là câu đối vẫn phát huy vẻ đẹp tiềm ẩn của nó trong cuộc sống ngày càng hiện đại và văn minh. Có thể nói, câu đối, “tinh hoa của tinh hoa” chữ nghĩa, loại hình văn học mang tính đặc thù, từ xưa đến nay và trong tương lai sẽ luôn là phương tiện chuyển tải những giá trị giàu tính nhân văn, giúp cho các thế hệ người con Việt Nam có thêm cơ hội tiếp cận, hiểu biết sâu sắc hơn những giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống và tinh hoa văn hóa của dân tộc ta.

1 Trần Ngọc Anh- Bình Hiệp- Bình Phục.
2 Cô giáo PTC- Quý Xuân- Bình Quý.
3 Đặng Ngọc Thọ- Quý Phước-Bình Quý.
4 Cố Thầy giáo Nguyễn Quốc - Hà Lam, Thăng Bình.
5 Thầy giáo Lê Sang- Bình Quế, Thăng Bình.
P.T.C

Các tin khác:

CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ








Thông báo
















Thống kê truy cập

00005711856

Hôm nay: 2571
Hôm qua: 5297
Tháng này: 60476
Tháng trước: 74800
Số người đang Online: 37