NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM MUÔN NĂM!
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Văn học - Nghệ thuật

Cuộc đời vẫn đẹp sao

Tác giả: Bùi Minh Quốc Ngày đăng: 15:13 | 08/03/15 Lượt xem: 27991

Sáng ngày 19.12.1968, trên một đỉnh núi cao vùng tây Quế Sơn (Quảng Nam), căn cứ của cơ quan tuyên huấn Khu 5 mang mật danh A7, tôi tiễn Quý đi công tác. Không ngờ đấy là những giây phút cuối cùng chúng tôi được bên nhau. Bàn tay Quý rời tay tôi, đôi mắt đen tròn lấp lánh sáng chớp chớp trên gương mặt xanh xao thoáng lướt trên nền cây rừng, rồi biến mất. Quý lúc thúc chạy theo cho kịp mấy bạn đồng hành, vẫn cái dáng chúi chúi quen thuộc - cái dáng của một số phận long đong.

     Từ tây Quế Sơn, Quý cùng Chu Cẩm Phong, Nguyễn Giá, Trần Thông theo đường giao liên vòng vào tây Trà Mi, xuống tây Thăng Bình rồi vượt đường số 1 xuống đông Thăng Bình. Tới đây, nhóm phân tán. Chu Cẩm Phong cùng hai bạn quay phim ra phía Bắc, chỗ đứng chân của Thị ủy Hội An. Quý ở lại thôn 5 và thôn 6 xã Bình Dương, một xã anh hùng.
     Gần hai tháng sau, làm xong số tạp chí Tết Kỷ Dậu (1969), tôi cũng rời căn cứ xuống đồng bằng. Tôi đi một mình, cũng theo đúng vệt đường giao liên mà Quý đã đi trước đó. Những vùng rừng bị B52 dội bom dọc đường cho tôi thấy Quý vừa trải thêm những ác liệt thế nào. Qua bức thư cuối cùng Quý gửi về và qua nhật ký của Chu Cẩm Phong mà sau chiến tranh tôi mới được đọc cho biết những ngày này Quý lại bị sốt rét.
     Rồi tôi cũng về Bình Dương. Tôi ở khi thì chỗ anh Quảng bí thư chi bộ, khi thì bên bà Hai Siêng hoặc chị Chín Tâm. Cách mấy đám khoai là nhà mẹ Nhạn, nơi đóng Văn phòng Đảng ủy xã. Khi biết tôi là chồng Quý, mẹ Nhạn kể: “Tháng trước con Quý còn ở đây. Nó ở với tao mấy ngày rồi ra thôn 6 lấy tài liệu về ngồi đây viết rồi ra Quảng Đà...”. Thôn 6 đang là trọng điểm của xã, rất ác liệt, bọn hải thuyền dưới biển và bọn tàu gáo trên trời quấy nhiễu ngày đêm nhưng dân vẫn kiên cường bám biển đánh cá, bám đất trồng khoai nuôi mình và nuôi du kích, bộ đội. Tôi biết tính Quý, lao vào thực tế là lao vào đến nơi đến chốn, phải đến bằng được những nơi “có chuyện” nhất. Chính tại nhà mẹ Nhạn, Quý đã viết cái bút ký “Gương mặt thách thức”. Gương mặt thôn 6, gương mặt Bình Dương hiện ra rất rõ. May sao, khi viết xong, Quý đã chép sạch gửi ngay theo đường giao liên về Khu, nên mấy tháng sau tôi được đọc và đưa in ở tạp chí Văn Nghệ Giải Phóng Trung Trung Bộ. Đây là tác phẩm cuối cùng của Quý mà chúng tôi có được.
     Đầu tháng 3, tôi nhớ hình như khoảng ngày 5 hoặc 6, địch tiến hành một cuộc càn quét dọc các xã ven biển vùng đông Thăng Bình. Tôi xuống hầm bí mật nhà chị Chín Tâm. Dưới hầm đã có sẵn nước. Những lúc địch giãn ra, chị Chín lại giở nắp hầm đưa thức ăn xuống cho tôi, chủ yếu là khoai luộc, thứ khoai lang của vùng Trà Đóa này ngon nổi tiếng. Tôi nằm hầm bí mật đã quen, sau chút ít căng thẳng ban đầu, tâm trạng dần bình thường trở lại, nằm nghĩ lan man đủ thứ. Nghĩ nhiều nhất đến Quý và Bé Ly. Không hiểu sao lại nhớ tới lời trách khéo của Quý trong một lần thủ thỉ tâm sự: “Anh làm nhiều thơ tình, mà Quý chả có được bài nào...”. Bao kỷ niệm dồn dập hiện về, từ độ mới quen nhau, rồi yêu nhau, lấy nhau. Cuộc sống vợ chồng ngắn ngủi xen kẽ giữa những chuyến công tác mỗi đứa mỗi nơi. Rồi hành quân vượt Trường Sơn, kẻ trước người sau... Những câu thơ tự nhiên cất lên, từ trong vô thức. Tôi lẩm nhẩm từng câu, từng đoạn. Rồi cả bài hoàn chỉnh hiện ra, tôi thuộc luôn. Bài thơ đã xong, không cần đến giấy bút. Địch rút, tôi lên khỏi hầm. Chị Chín kể lại tình hình địch càn và chỉ cho tôi thấy lằn xích xe tăng của nó cách hầm tôi gần chục mét. Chưa kịp tắm rửa, tôi vội giở sổ chép lại bài thơ vừa làm xong. Tôi hỏi chị Chín : “Hôm nay ngày mấy chị?”. Nghĩ một chút, chị bảo: “Ngày bảy”. Tôi ghi cuối bài : 7.3.1969, và ngồi một mình tận hưởng niềm sung sướng mỗi khi làm xong một bài thơ, mường tượng ít ngày nữa ra Quảng Đà gặp Quý, cho Quý đọc, chắc Quý thích lắm đây. Tôi vừa làm việc ở Bình Dương vừa chờ móc nối với giao liên để ra Quảng Đà, lòng khấp khởi sắp được gặp Quý, sắp được đưa Quý đọc bài thơ mới nhất dành cho Quý. Bài thơ ấy là “Bài thơ tình yêu ”, sau này nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc đặt tên là “Cuộc đời vẫn đẹp sao”.
     Nhưng bài thơ dành cho Quý, Quý không kịp nhận. Trong mấy ngày tôi nằm hầm bí mật ở Bình Dương (Thăng Bình), thì Quý cũng đã nằm hầm bí mật ở Xuyên Tân (Duy Xuyên). Đêm 8.3.1969, Quý cùng đồng đội lên khỏi hầm bí mật cố bò thoát ra khỏi vòng càn nhưng chẳng may bị lộ và bị chúng sát hại. Địch chốt giữ dài ngày và cày ải khắp thôn xóm, thân xác Quý không ai biết bị vùi lấp nơi đâu. Sau chiến tranh, sau những lần tìm kiếm bất thành, tháng 1 năm 1996, tôi cùng con gái Hương Ly, với sự giúp đỡ của một số cơ quan đơn vị, đã dựng tại đây một tấm bia tưởng niệm. Trên bia, khắc những dòng này: “Dương Thị Xuân Quý để lại cho đời tác phẩm HOA RỪNG và tấm gương ngời sáng của một nhà văn - chiến sĩ hy sinhsự nghiệp độc lập cho dân tộc và tự do cho mỗi con người”.
     Thế rồi, nhờ một cơ duyên kỳ lạ, chiều 3 tháng 8 năm 2006, tôi đã tìm được hài cốt của Quý và tiến hành cải táng đặt mộ phần ngay sau bia tưởng niệm.
     Nơi đây, thỉnh thoảng các em thiếu nhi và các bạn trẻ vẫn đến thắp hương và suy nghĩ về một thời.
     Đôi khi, tôi lại nghe các bạn trẻ hát:
          "Cuộc đời vẫn đẹp sao
          Tình yêu vẫn đẹp sao..."...
     Thế là thế nào? Đói khổ. Đạn bom. Chết chóc. Chia lìa. Hàng ngày. Hàng giờ. Cuộc sống chúng tôi những năm tháng ấy là thế. Mà sao lại có thể hát lên: “Cuộc đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao...”? Hẳn có bạn sẽ hỏi vậy. Tôi chẳng biết. Các nhà nghiên cứu sẽ cắt nghĩa vì sao. Còn tôi, tôi chỉ biết tâm trạng của chúng tôi thời đó là thế. Không thế thì không sống nổi. Thế hệ chúng tôi còn có sự lựa chọn nào khác hơn là chọn niềm vui trong sự dấn thân vì đại nghĩa của dân tộc và con người?
     Nhật ký của Quý ghi, lúc chuẩn bị đi Quảng Đà: “Sống giữa không khí mặt trận. Đầy nguy hiểm nhưng cảm giác của mình là say mê và thú vị. Biết là nguy hiểm lắm nhưng sẵn sàng lao vào, dù có hy sinh. Đời người ai chả chết.”... “Lo, mình lo chứ. Nhưng mình quyết tâm". Thư của Quý gửi cho Chu cẩm Phong (Trần Tiến) có những câu này “Xuyên Hòa kiên cường lắm! Tôi bắt gặp nhiều điều rất xúc động. Ở Xuyên Phú, địch phản ứng gay gắt hơn. Cũng hoảng anh Tiến ạ, nhưng vui tuyệt diệu. Chuyến đi này tôi gặp nhiều nguy hiểm nhưng vui kỳ lạ”.
     Thư viết ngày 2 tháng 3.1969. Đó là những dòng cuối cùng trong cuộc đời cầm bút ngắn ngủi của Quý, 28 tuổi đời, 7 tuổi văn.
                                                            B.M.Q
(Nguyên Chủ tịch Hội VH - NT tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng,
Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí ĐẤT QUẢNG)

B.M.Q

Các tin khác:

CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ








Thông báo
















Thống kê truy cập

00006010888

Hôm nay: 41
Hôm qua: 3808
Tháng này: 83061
Tháng trước: 93608
Số người đang Online: 30