Chào mừng kỷ niệm 88 năm Ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam (18/11/1930 - 18/11/2018)!
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Danh nhân

Danh nhân Tiểu La - Nguyễn Thành

Tác giả: SuperUser Account Ngày đăng: 7:41 | 23/10/07 Lượt xem: 4617

Trong phong trào Nghĩa Hội ở Quảng Nam 1885 - 1887, có rất nhiều sĩ phu yêu nước ở tỉnh nhà tham gia; trong đó có một người trẻ tuổi, tài cao, kiên trì đấu tranh cho sự nghiệp cứu nước của dân tộc, từ Nghĩa Hội đến Đông Du; đó là Tiểu La-Nguyễn Thành.

Trong phong trào Nghĩa Hội ở Quảng Nam 1885 - 1887, có rất nhiều sĩ phu yêu nước ở tỉnh nhà tham gia; trong đó có một người trẻ tuổi, tài cao, kiên trì đấu tranh cho sự nghiệp cứu nước của dân tộc, từ Nghĩa Hội đến Đông Du; đó là Tiểu La-Nguyễn Thành.


 Ảnh: Mộ cụ Tiểu La - Nguyễn Thành

Nguyễn Thành còn gọi là Nguyễn Hàm, hay Ấm Hàm, tự là Triết Phu, hiệu là Nam Thạnh, rồi Tiểu La, nên thường quen gọi là  Tiểu La-Nguyễn thành. Ông sinh năm 1863, tại làng Thạnh Mỹ, phủ Thăng Bình (nay là thôn Quý Thạnh, xã Bình Quý, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam), trong một gia đình Nho giáo. Thân sinh ông là Nguyễn Trường, làm Bố chánh sứ tỉnh Bình Định, hàm Tham Tri dưới thời Tự Đức.

Vốn tính thông minh, từ thuở nhỏ ông thường chuyên chú đọc các loại binh thư như Ngũ hầu tâm thư, Tôn tử binh pháp, cùng các loại sử địa nước nhà... điều ấy đã cho thấy trong ông đã có hoài bão là muốn hiểu biết để tìm ra con đường cứu nước, cứu dân chứ không có ý muốn làm quan.  Sự thông minh và ý chí của ông đã được Phan Bội Châu nhận xét: “Tiên sinh lúc nhỏ thông minh đĩnh ngộ, lớn lên có tính khẳng khái, khác thường. Đầu tiên học chữ Hán, nghe hiểu nhớ nhiều hơn cả bạn bè”.

Những đức tính tự chủ và tài tháo vát của ông đã thể hiện từ buổi thiếu thời, việc đưa thi hài thân sinh của ông từ Bình định về chôn cất tại quê nhà là một minh chứng.

Năm 1885, ông lều chỏng ra Huế để thi Hương, nhưng vào thời điểm ấy vụ binh biến kinh thành Huế diễn ra, kỳ thi không tổ chức được, ông trở lại quê nhà, từ bỏ đèn sách, hưởng ứng phong trào Nghĩa Hội.

Với tư cách là ấm sinh, ông chiêu mộ một cánh quân, kết cùng Nghĩa Hội đánh thành tỉnh, lúc này ông mới vừa tròn 18 tuổi, vì thế các tướng sĩ có ý xem thường tài thao lược của ông, nhưng ông vẫn không nản lòng, quyết cùng Nghĩa Hội đánh Pháp.

Khi quân Pháp đưa quân chiếm lại thành tỉnh, Nam triều bổ nhiệm Châu Đình Kế làm Tuần Vũ Quảng Nam, bọn chúng đưa quân đi càn quét vào các huyện, xã; Nguyễn Thành liền cho quân mai phục, đánh thắng nhiều trận, lúc này uy tín của ông ngày càng được nâng cao. Phó bảng Nguyễn Duy Hiệu tin tưởng giao cho ông chức  Tán Tương quân vụ kiêm Thượng Biện tỉnh vụ và khi Án Nại hy sinh tại mặt trận Phú Thượng, ông được chỉ định thay thế; nghĩa binh dưới quyền chỉ huy của ông đã mở nhiều trận đột kích vào Đà Nẵng.

Năm 1887, khi phong trào Nghĩa Hội bị thất bại, sĩ phu có người bị giặc Pháp bắt, có người tự vẫn, nhưng Nguyễn Thành vẫn cương quyết cùng nghĩa binh chiến đấu đến cùng. Nguyễn Thân ra lệnh cho bọn lính Nam triều phải tìm mọi cách bắt sống ông. Thấy ông là người có tài, nên Nguyễn Thân muốn mua chuộc ông nhưng không thành, vì thế chúng quản thúc ông tại quê nhà. Từ đây, ông ẩn mình trong sơn trang với mẹ già, tiếp tục nuôi chí lớn, bí mật hoạt động. Tại sơn trang Nam Thạnh, ông liên lạc với các văn nhân, sĩ phu yêu nước trong tỉnh và cả nước, chờ thời cơ giúp dân, cứu nước.

Năm 1903, Phan Bội Châu đã đến sơn trang để tìm gặp Nguyễn Thành, bàn việc nước; năm 1904 Hội nghị thành lập Duy Tân hội đã diễn ra tại đây, ông là một trong những người có công lớn trong việc sáng lập và tổ chức Duy Tân hội.

Sau khi Phan Bội Châu sang Nhật, Nguyễn Thành bí mật hoạt động ở trong nước, ông vận động kinh phí, đưa thanh niên ra nước ngoài du học để chuẩn bị lực lượng cứu nước.

Năm 1908, cùng lúc phong trào Duy Tân hội đang phát triển mạnh, cuộc kháng thuế ở Trung Kỳ đã nổ ra, giặc Pháp thẳng tay đàn áp và truy bắt các sĩ phu yêu nước, Tiểu La-Nguyễn Thành lại một lần nữa rơi vào tay giặc, và chúng đã kết án chín năm biệt xứ, đày đi Côn Đảo.  Tại đây phần lo cảnh mất nước, nhà tan, vợ con không còn, các phong trào yêu nước lần lược bị thất bại, ông đau buồn và qua đời vào ngày 11-11-1911.

Sau gần 50 năm (1957), thi thể của ông mới được đưa về cải táng tại quê nhà. Hiện nay, mộ ông tọa lạc ở thôn Quý Thạnh, xã Bình Quý, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam; mộ được trùng tu vào năm 1997, với diện tích 104m2. Bố cục mặt bằng hình vuông, mộ tròn, nhà bia hình lập phương, nóc cao vút, có 4 mái cong, lợp ngói ong, đỉnh trước hình chữ “Thọ”, trên cùng là ngọn bút lông vươn thẳng, chính giữa mái của trần là những cánh hoa sen tỏa cánh, phía trên lợp kín; có 4 cột vuông, kết hợp lam treo cách điệu hình dáng con người đang dỡ lấy mái, chánh diện là nơi đặt bia mộ có bức hoành phi mây nước, trên bức hoành phi có khắc lại một số văn tự của những sĩ phu cùng thời đề tặng ông... Chung quanh khu mộ là những hàng cây xanh và những bồn hoa xinh xắn. Đây là một trong những công trình lịch sử văn hóa của địa phương có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ.

Sưu tầm và lược ghi: P.C.T

S.A
Nguồn tin: Sưu tầm và lược ghi: P.C.T

CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ








Thông báo
















Thống kê truy cập

00006196887

Hôm nay: 1894
Hôm qua: 6974
Tháng này: 56194
Tháng trước: 99301
Năm này: 863845
Số người đang Online: 39