NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM MUÔN NĂM!
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Danh nhân

Hà Đình Nguyễn Thuật

Tác giả: Phùng Tấn Đông Ngày đăng: 10:14 | 08/09/15 Lượt xem: 3807

     Cuộc đời của một vị đại thần
     SáchQuảng Nam xưa và nay của cụ Cử Hồ Ngận có viết: “Đến làng Hà Lam, phủ Thăng Bình về mùa hè, thấy một hồ sen, hương sắc thơm tươi, ấy là gần tới nhà Nguyễn Thuật, vì vậy ông lấy hiệu Hà Đình”(1). Trong hồi ký “Khúc Tiêu đồng” cụ Cử Hà Ngại cũng có nhắc mấy câu thơ Hà Đình “tự giới thiệu” về quê hương Hà Lam và ngôi nhà của mình: “Thập lý hà phong hương bất đoạn- Bảng kiều tây bạn thị ngô gia” nghĩa là “Mười dặm gió sen thơm chẳng dứt-Phía tây cầu ván đó nhà tôi”(2)
     Hà Đình sinh năm Nhâm Dần 1842, nguyên tên là Nguyễn Công Nghệ, sau cải là Nguyễn Thuật, xuất thân trong một gia đình Nho học vọng tộc. Gia phả tộc Nguyễn Công ở Hà Lam cho biết thủy tổ của họ là ngài Nguyễn Công Châu, quê xã Bình Luật, huyện Thạch Hà, phủ Hà Ba, Thừa tuyên Nghệ An di cư đến làng Hà Lam, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Hoa, Thừa tuyên Quảng Nam ,cho đến nay đã truyền được 16 đời. Gia phả cho biết ông Nguyễn Công Để thuộc đời thứ hai của dòng tộc này là tướng dưới cờ Bình Chiêm Hưng Quốc của vua Lê Thánh Tông. Năm Tân Mão. 1471, đại quân tiến binh vào Nam đánh Chiêm Thành, mở rộng biên cương về phương Nam. Sau khi bình định xong lãnh thổ, Nguyễn Công Để được trấn nhậm Cai phủ, tước phong Phó đô hầu” (Hà Lam xã chí - Hội đồng bảo tộc tiên hiền Hà Lam biên soạn năm 2003).
     Hà Đình là con ông Nguyễn Đạo (1803-1872), một người cha nhân từ, phúc hậu, trong một gia đình nổi tiếng hiếu thuận, thật đúng câu “phu từ, tử hiếu, huynh hữu, đệ cung” (cha nhân từ, con hiếu kính, anh nhường nhịn bao dung, em cung kính lễ phép). Sách “Đại Nam chính biên liệt truyện” của Quốc sử quán triều Nguyễn quyển 42 (Hạnh - Nghĩa) viết về Nguyễn Đạo như sau: “Tự là Suất Tính, người Lễ Dương, Quảng Nam. Lúc nhỏ mồ côi chăm học, đầu niên hiệu Minh Mạng (1820), hai lần đỗ tường sinh. Năm 40 tuổi, hạch theo lệ, được bổ giáo chức, vì có mẹ già xin từ chối ở nhà phụng dưỡng. Ở nhà, lấy việc cày ruộng, đọc sách làm nghề nghiệp, lấy hiếu, hữu, lễ, nhượng dạy con em, người làng đều cảm hóa theo. Tính chất phác ngay thẳng, đối với mọi người ít khi uốn mình chiều ý, nhưng mau cấp cứu khi hoạn nạn, vui lòng giúp đỡ khi túng thiếu. Hồi đầu niên hiệu Tự Đức (1848) mùa màng luôn bị thất bát, Đạo quyên chẩn không ngại tốn, làng Đạo ở và những thôn, xã lân cận nhờ được qua (đói), sống rất nhiều. Đạo lại quyên thóc ra khuyên dân lập nghĩa thương làm kế phòng đói. Tỉnh đem về tâu lên, tiết thứ được thưởng áo lụa mầu (2 chiếc) và phi long ngân tiền (12đồng). Từ năm Mậu Ngọ đến năm Qúy Hợi (1858-1863) vùng bờ biển hữu sự, dân trong hạt đói, tỉnh thần phái ủy cho Đạo đi khuyên quyên được hơn 6 vạn quan. Đạo lại tự quyên tiền của nhà để cấp cho hương binh và giúp việc phát chẩn, tiền cũng như thóc đều kể có hàng vạn...Hai phường An Phú, Dục Thúy trong huyện không đất, ăn ở lênh đênh trên mặt nước, Đạo khuyên dân xã mình trích ra hơn 20 mẫu công điền nhượng cho. Việc tâu lên, dân xã được thưởng một tấm biển 4 chữ “Thiện tục khả phong”...Huyện hạt từ trước chưa có văn chỉ, Đạo phối hợp với thân sĩ trong huyện đi khuyến dân quyên cúng và nhượng đất công dựng văn chỉ ở ngay làng mình...Đạo lại khuyến khích dân làng đặt ra học điền, dựng trường học văn, học võ, mời thầy về dạy. Cho đến đền, chùa, cầu, đập, đồng ruộng, thủy lợi, hết thảy đều được sửa sang, việc gì cũng rõ ràng đâu ra đấy, mà đều đôn đốc việc căn bản, cải thiện trong phong tục làm cái kế hơn hết về việc bảo đảm cư tụ cho dân.Lâu rồi của để dành của dân dồi dào, gặp năm đói không phải xin nhà nước cấp giúp nữa”. (3)
     Như vậy cha ông là “một bậc nghĩa sĩ phẩm hạnh”. Anh ông là Nguyễn Đạo “lúc trẻ có tiếng hay chữ, Thiệu Trị năm thứ 6 (1865) đỗ hương tiến, 6 lần thi Hội (Lễ vy) đều bị hỏng. Tự Đức năm thứ 15 (1862) mới được do lệ tuổi bổ Huấn đạo huyện Gia Lộc. Nhân có việc bổ đổi đi Hương Trà, sau thăng Biên tu, sung Tập hiền viện khởi cư chú, giữ việc chú thích các thơ và sử vua làm ra cùng biên tập các sách sử yếu. Năm thứ 18 (1865) đổi lĩnh huyện Phù Cát”(4). Anh ông do có công và liêm khiết được thưởng tấm biển có 4 chữ “Liêm, bình, cần, cán”, từng cải bổ phủ Hoài Đức, thăng Thị độc lĩnh Án sát sứ Hải Dương, Bố chánh Quảng Bình, Nam Định, Sơn phòng sứ Quảng Nam, sung Sử quán Thừa biện.Cũng sách Đại Nam liệt truyện “Tạo là người thanh liêm, giỏi làm quan, làm quan ở đâu đều có tiếng tốt, được vua phê rằng : “Quan giỏi hiếm có”(5) . Em ông - liệt sĩ của phong trào Cần Vương - Nguyễn Duật hay Nguyễn Uýnh, đỗ Tú tài năm 1875, đỗ Cử nhân khoa Kỹ Mão 1879, đồng Cử nhân võ trong cùng năm được bổ chức Lãnh binh, xin khất không ra làm quan.Nguyễn Uýnh tham gia Nghĩa Hội với Trần Văn Dư từ tháng 7-1885, nhân dân Thăng Bình, Quế Sơn gọi ông là ông “Cử Hội”. Cuối năm 1885 tình hình Nghĩa hội Nghĩa Định (Quảng Nghĩa, Bình Định) bị Nguyễn Thân đánh phá ác liệt có nguy cơ bị tiêu diệt. Để trợ lực Nghĩa hội cử Tán tương quân vụ Nguyễn Uýnh cầm đầu một trong 5 cánh quân Quảng Nam vào phối hợp với 3 cánh quân của Nghĩa hội Quảng Ngãi - Bình Định đánh vào huyện lị Bình Sơn, Quảng Ngãi.Trận đánh thắng lợi, quân Nghĩa hội làm chủ huyện lị, quan quân triều đình tan rã. Đến tháng 7 năm Bính Tuất (1886) có lệnh của Quảng Nam rút 5 đội quân về. Đội quân Cử Hội đi hậu tập, khi ra đến cầu Cháy huyện Bình Sơn thì bị phục binh của Nguyễn Thân chặn đánh. Trong lúc hỗn quân, ông hy sinh tại trận vào ngày 5 tháng 9 năm Bính Tuất (1886). Quân triều được hỗ trợ của quân Pháp tiến ra truy bắt gia đình Nguyễn Uýnh tại Hà Lam, đốt nhà thờ tộc Nguyễn Công.
      Nguyễn Thuật là thân phụ cử nhân Nguyễn Chức cùng làm quan triều Nguyễn.
     Nguyễn Thuật hiệu Hà Đình (trong văn giới thường gọi thân mật là Hà Đình). Tự là Hiếu Sinh (hay Hiếu Sinh học). Tước là Trường An Tử. Lúc ông làm quan rồi về hưu nhân dân thường gọi là “Cụ Thượng Hà Đình”. Mẹ ông là bà chánh thất Võ Thị Tại (tùng nhị phẩm phu nhân).
     Thủa nhỏ ông học tại nhà, rồi học tại trường Huấn Thăng Bình, trường Đốc Quảng Nam. Năm Tự Đức thứ 20 (1867) ông thi đỗ cử nhân, năm sau Tự Đức thứ 21, ông đỗ luôn Phó bảng (1868), được triều đình bổ hàm Thị Lang nội các (1872), rồi không lâu tăng Giáo đạo (Trường Dưỡng Thiện) dạy các hoàng tử, rồi Tổng đốc Thanh Hóa... Hà Đình từng được phong hàm: “Thái tử Thiếu Bảo, Hiệp Biện Đại học sĩ, Quản Lãnh Lại Bộ Thượng thư, Sung cơ mật viện đại thần, Kinh Diên giảng quan, Tổng tài Quốc sử quán, Chánh nhất phẩm, Đông Các đại học sĩ.
     Đường quan lộ, ông là người kinh qua nhiều trách vụ, chức vụ khác nhau, khi thì ở triều đình, khi nơi biên quận.Ban đầu ông giữ chức hàm: Biên tu sung Hàn lâm viện nội các. Năm Tự Đức thứ 34 thăng hàm : “Tham tá các vụ” lãnh “Hộ Bộ thị lang” rồi phụng hàm chánh sứ sang Trung Hoa năm 1880, nộp biểu xưng thần, vận động ngoại giao với Trung Hoa về việc nước ta phải ký hòa ước Giáp Tuất (1874) với Pháp để Trung Hoa giúp sức. Mặc dù cuộc vận động bất thành, khi trở về ông được thăng hàm “Tham tri”. Năm Tự Đức thứ 30, ông được triều đình cử làm quan duyệt quyển cho  khoa thi Hội Đinh Sửu (1877).
     Năm Tự Đức 36 (1883) ông lại phụng mạng đi sứ Trung Hoa, hội thương tại Yên Kinh (Bắc Kinh). Ở quê nhà Việt Nam, lúc đó vua Tự Đức băng hà. Ông ở Yên Kinh một thời gian, công việc lại không thành, ông về nước.Năm Giáp Thân (1884), năm Kiến Phúc nguyên niên, ông được bổ Tuần vũ Thanh Hóa.
     Năm Ất Dậu (1885), Pháp chiếm kinh đô Huế, ông được triệu về, sung chức Tuyên úy sứ Quảng Nam - Tả trực kỳ (Tả trực là tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi; Tả kỳ là tỉnh Bình Định, Phú Yên) để hiểu thị các tỉnh miền Nam Trung kỳ này, sau đó ông về kinh làm chủ khảo khoa thi Hội năm Đinh Hợi (1887). Từ thời điểm này, hoạn lộ của ông ngày càng thăng tiến.
     Năm Đinh Hợi (1887), năm Đồng Khánh thứ hai, ông phụng mạng Khâm sai làm Tổng đốc Thanh Hóa. Năm Giáp Tí, Thành Thái thứ năm (1893) ông về kinh, được phong hàm “Hiệp tá đại học sĩ” tùng Nhất phẩm-phong tước “Trường An Tử”, lãnh Thượng thư bộ Binh sung Cơ mật viện đại thần. Trong mười năm sau đó, ông làm Thượng thư đủ năm Bộ tại triều đình.
     Năm Thành Thái thứ mười ba (1901), do bất mãn với hành trạng xu phụ thực dân Pháp của Nguyễn Thân - nguyên do Cần chánh Nguyễn Thân (1840-1914) ra Hà Tĩnh dụ các Văn Thân chi đảng của cụ Phan Đình Phùng, đem về kinh thương lượng với Pháp, rồi đem ra pháp trường chém hết mười mấy người - việc này ông không chịu ký tên chuẩn y sự vụ, sau đó xin về hưu ngay trong năm 1901, lúc đang chức Thượng thư bộ Binh sung Cơ mật viện đại thần.
     Thời gian hưu trí tại quê nhà, ông mở trường dạy học, đóng góp công sức cho việc khuyến học, khuyến tài cho quê hương bản quán. Ông đóng góp ngân lượng nhiều nhất (20 lượng) cho việc hoàn thiện đình làng (Đình Hội Linh) vì “đó là việc thiện cũng như việc cứu người, nói công trạng an dân vậy”(6). Năm 1902 (Tháng chạp, năm Thành Thái 14) nhân vụ Nguyễn Thân (Cần chánh lãnh Binh bộ Thượng thư) bất hòa với Hoàng Cao Khải (Văn minh lãnh Lại Bộ Thượng thư) mưu đồ khuynh loát nhau, và Thân ỷ thế lộng hành, toàn quyền Pháp thương thuyết với vua Thành Thái đưa ông Khải ra làm Kinh lược Bắc Kỳ, còn ông Thân bị bãi chức, hạn trong 24 giờ phải dọn ra ở ngoại thành, đồng thời vua có chỉ triệu ông Hồ Lệ (đang nghỉ dưỡng bệnh) và Nguyễn Thuật (tức Hà Đình, đang về hưu ở Hà Lam) ra thế vị trí hai ông trên - ông Hồ Lệ làm Thượng thư bộ Binh, ông Hà Đình làm Thượng thư bộ Lại. Ngày 23 tháng chạp, Hà Đình cùng Hồ Lệ lai kinh nhậm chức. Khi đi, tỉnh đường và sĩ dân tổ chức tiệc tiễn hành rất trọng thể, hai bên đường Vĩnh Điện, thân hào nhân sĩ ra tiễn đưa rất đông (việc này ông có chép lại trong “Hà Đình nhật ký” ).Việc tái nhậm chức chứng tỏ  tư cách ông và Hồ Lệ - trong hoạn lộ từng giúp vua, hết lòng vì dân, vì nước.
     Đến đời vua Duy Tân (1907-1916), ông vẫn giữ chức Thượng thư rồi về hưu lần thứ hai. Sau khi về hưu, ông dạy học tại quê nhà Hà Lam hơn tám năm. Năm 1911, ông bị bệnh mất vào ngày 25 tháng 11 năm Tân Hợi, hưởng thọ 69 tuổi Tây (âm lịch thọ 70 tuổi). Vua Duy Tân truy tặng Đông các điện đại học sĩ.
     Nguyễn Thuật là một đại thần, trải các đời vua Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phước, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, ông từng làm quan đủ sáu bộ trong Lục Bộ của triều nhà Nguyễn, từng hai lần đi sứ sang Tàu (một lần làm Phó Sứ (1881), một lần làm Chánh Sứ (1883)), từng chủ khảo các kỳ thi Hội mà gia cảnh vẫn thanh bạch, đương thời ông được giới sĩ phu và nhân dân trọng vọng.
     Một con người thông tuệ, một nhà ngoại giao thương dân, yêu nước

     Hà Đình trước hết là một người cầu học và học rất thông minh, “chữ viết tốt như thiệp Tàu”(7), thi Hương trước đỗ Tú tài, sau Cử nhân, rồi ra tập bài với các vị đại khoa, thi Hội đỗ Phó bảng.Đôi câu đối của viên chánh tổng trong làng mừng ông thi đỗ được mọi người truyền tụng:
          Phiên âm:
                     Sư tư sắc Nguyễn Tấn Sĩ, Ngụy Thám hoa, Trần Tam nguyên, học hành tảo hy Hương Thủy bắc

                      Khoa đệ tắc Tý Tú tài, Mẹo Cử nhân, Thìn Phó bảng, tài danh cao chiếu Hải Vân nam

          Tạm dịch:
                      Thầy thi Tấn sĩ họ Nguyễn, Thám hoa họ Ngụy, Tam nguyên họ Trần, theo đòi học hạnh bắc sông Hương

                       Khoa thi Tú tài năm Tý, Cử nhân năm Mẹo, Phó bảng năm Thìn, lừng lẫy tài danh nam núi Hải

                                                                                                          (Cử nhân Hồ Ngận dịch)
     Ông làm quan dù ở chức vị nào, chính sách cũng khoan hòa, nhân tình cảm phục. Ông là một vị đại khoa đa tài, giàu tình nghĩa, ở trong ông có sự nhạy bén, mưu lược của một chính khách, tài năng hùng biện, quan hệ rộng, sâu với đồng sự của một nhà ngoại giao, tài học uyên nhã của một nhà giáo dục,kiến văn sâu rộng của một sử gia (ông từng là Tổng tài Quốc sử quán), một nhà thơ trác tuyệt (có hơn 500 bài), một thư pháp gia, họa gia (để lại nhiều tác phẩm thư pháp, bức họa). Ngoài sự khen tặng của các vua Việt Nam, ông còn được vua Quang Tự (1875-1908) nhà Thanh, Trung Hoa ban tặng sắc phong. Thi tài của ông tuyệt bút với số lượng rất lớn, trên 500 bài thơ văn chưa kể câu đối được lưu trữ ở Viện Viễn Đông bắc Bác cổ (“ E`cole francaise d`Extreme-Orient”) là nơi khảo cứu, lưu trữ tinh hoa văn hóa Việt cũng như trên thế giới.
     Trước hết ông là một người nặng lòng với nước, với dân, với gia đình họ mạc riêng tây cũng như với đồng bào chung cả nước. Còn nhớ khi Nghĩa Hội Quảng Nam thất bại, nhiều người bị bắt thì “với chức Tuyên úy xử trí đại thần, ông đã tư Viện Cơ mật xin cho những người thuộc giáo chức, lại dịch, dân binh, già yếu được chuộc bằng bạc và xin bỏ lệ phạt tiền đối với các tổng, lý địa phương nơi có người tham gia Nghĩa Hội. Nhờ đó không những anh và hai người em trai của ông thoát vòng lao lý mà còn có đến 865 người khỏi bị giam cầm, tra khảo, được cho về quê làm ăn”(8). Ông cũng xin triều đình khoan miễn thuế cho nhân dấn các tỉnh Quảng Nam, Thanh Hóa trong những năm đầu của triều Đồng Khánh. Sách “Quốc triều chánh biên toát yếu” chép “Tuyên úy xử trí đại thần Nguyễn Thuật đem tình hình điêu háo trong tỉnh Quảng Nam tâu lên, xin rằng trong năm Hàm Nghi, tỉnh ấy còn nhiều thuế đinh điền và thuế các hạng bao nhiêu xin gia ân tha hết (trừ thuế nha phiến, thuế yến sào, thuế mỏ than và thuế rượu, thời phải chiếu lệ nạp đủ). Ngài (Đồng Khánh) cho”.(9) Đặc biệt, theo như Cường Để cho biết thì Nguyễn Thuật cùng với Trần Đình Phác, Nguyễn Hữu Bài, Nguyễn Thảng, Đào Tiến, Phạm Tấn và Đốc vận Hiền “đều là những người trong quan trường và có đầu óc trung quân ái quốc” gia nhập đầu tiên vào tổ chức Duy Tân hội lập tại nhà Nguyễn Hàm (Tiểu La Nguyễn Thành) ở sơn trang Nam Thạnh (nay thuộc xã Bình Quý, huyện Thăng Bình) vào năm 1904.(10)
     Như vậy, sống và làm quan trong bối cảnh lịch sử hết sức nghiệt ngã, giữa một bên là triều đình cam tâm làm tay sai và một bên thực dân Pháp thống trị đất nước tàn bạo và hà khắc, bóc lột nhân dân đến tận xương tủy, tâm tư Hà Đình giằng xé thường trực giữa lẽ “trung quân” và “ái quốc”, giữa lẽ “hành” và “tàng”, “xuất” và “xử”. Ông có bà con với chí sĩ phong trào Duy Tân là Lê Cơ mà trong báo cáo của công sứ tỉnh Quảng Nam Charles gởi cấp trên đã lưu ý rằng Lê Cơ là “bà con với ông Hiệp biện Nguyễn Thuật, nguyên Thượng thư Bộ Lại”(11). Lúc làm quan ở Huế, ông dường có “thực nghiệm” phong trào duy tân bằng cách lập một làng thuộc địa phận huyện Phú Lộc (Thừa Thiên) “đặt tên là ấp Kinh Nam quy dân lập ấp, khai khẩn đất hoang, nhưng đất xấu, người sưa, kết quả không được như ý”(12)
     Về việc đi sứ sang Tàu, theo cuốn “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim chép thì vào năm Giáp Tuất (1874), triều đình Huế đã ký hòa ước với nước Pháp, công nhận nước Việt Nam đã độc lập, không thần phục nước nào cả. Nhưng lúc bấy giờ vì thế bất đắc dĩ mà ký hòa ước “chứ trong bụng vua Tự Đức vẫn không phục nước Pháp, cho nên ngài cứ theo lệ triều cống nước Tàu. Có ý muốn khi hữu sự, nước Tàu sẽ giúp mình”. Bởi vậy năm Bính Tý (1876) vua sai Bùi Ân Niên đi sứ nhà Thanh. Năm Canh Thìn (1880) lại sai Nguyễn Thuật, Trần Khánh Tiến, Nguyễn Hoán sang Yên Kinh dâng biểu xưng thần và cống lễ vật.
     Theo Hồ Ngận - “Một bên đã hòa với nước Pháp, nhận theo chiến lược ngoại giao của Pháp mà độc lập, một bên cứ triều cống nước Tàu, vì thế mà nước Pháp lấy điều đó trách triều đình ta”(13). Sách “Việt - Pháp bang giao sử lược” của Phan Khoang ghi nhận thì “sứ bộ năm Canh Thìn qua đến đế đô nhà Thanh còn có nhiệm vụ tâu bày việc nước Pháp xâm lăng, và bí mật cầu Thanh cứu viện”(14). Năm Tân Tỵ (1881) triều đình Thanh sai một viên quan tên Dương Đình Cảnh đánh tiếng là người của một hội buôn “Chiêu Thương cuộc” đến Huế xin lãnh việc vận tải, kỳ thật để do thám việc bên ta. Khi được tin báo Hà Nội thất thủ, vua Thanh sai chủ sự Dương Cảnh Tùng đến Quảng Đông cùng quan tỉnh ấy là Mã Phục Đôn, Châu Bính Lân sang ta. Dương Cảnh Tùng đến kinh rồi ra Hải Phòng qua các tỉnh miền Bắc xem xét tình hình.Nước ta cử Nguyễn Thuật làm Khâm sai cùng bọn Mã Phục Bôn qua Quảng Đông trình bày mọi việc với Tổng đốc Tăng Quốc Phiên truyền đạt lên vua Thanh.Xem vậy đủ biết “vua Tự Đức sở dĩ sai Nguyễn Thuật đi sứ sang Tàu là có ý cầu viện nhà Thanh để chống lại Pháp mặc dầu lúc ấy đã tạm điều đình với Pháp. Sau đó Lưu Vĩnh Phúc ở Tàu (tướng cờ đen) đem quân qua chống cự với Pháp.
     Trong khi đi sứ Tàu hai lần, Hà Đình giao thiệp với nhân sĩ, trí thức, văn nhân Tàu, thơ từ qua lại khá nhiều, nên vậy ông có quyển “Hà Đình thi tập” truyền lưu hậu thế.
     Bình nhật Hà Đình có thói quen ghi chép sự việc cần nhớ hàng ngày, tự tay ông chép bằng chữ Nho, nhiều đến mấy chục quyển gọi là “Hà Đình nhật ký”. Cụ Cử Hồ Ngận nhận xét về “Hà Đình nhật ký”: “Tuy biên chép đại lược, nhưng cũng tùy việc hoặc kiểm thảo, hoặc ngụ ý khen chê, người sau được xem các quyển ấy, hiểu biết được nhiều điều. Đơn cử việc ấy, đủ biết đức tính thận trọng của ông”(15)
      Một nghệ sĩ
- con người của văn chương, nghệ thuật
     Khi được tấn phong tước “An Trường Tử”, ông có soạn bộ “Cung kỷ luân âm” ghi chép văn thơ của vua triều Nguyễn. Khi làm Thượng thư Bộ Lại, ông có tham gia “Mạc Vân thi xã” do các ông Tuy Lý Vương, Tùng Thiện Vương sáng lập. Trong Thi xã ấy có các nữ sĩ tham dự, bà Huệ Phố Qúy Khanh, con gái thứ 31 của vua Minh Mạng, em Tùng Thiện Vương có tiếng thơ hay, Nguyễn Thuật xem bài thơ “Ức Mai” của bà, đã phải thốt câu “Ngâm đáo Ức Mai thanh vận tuyệt - Bất phường biệt hiệu tác Mai Am”-nghĩa là: “Ngâm đến thơ “Ức Mai” vần điệu thật trong suốt tuyệt bậc, tác giả đặt biệt hiệu “Mai Am” thật cũng xứng đáng”.(16)
     Ngoài một vị đại thần, một sử gia, một nhà giáo...Hà Đình còn là một nhà thơ kiệt xuất của lịch sử văn chương Việt nửa cuối thế kỷ XIX. Nếu nhìn nhận một cách toàn diện, so với các tác gia cùng thời như Nguyễn Thông (1827-1884), Phan Thận Duật (1825-1885), Nguyễn Trọng Hợp (1834-1902), Bùi Văn Dị (1832-1895), Đào Tấn (1845-1907), Dương Khuê (1839-1902), Dương Lâm (1851-1920)...Hà Đình Nguyễn Thuật vẫn là một “khuôn mặt lớn” chẳng kém cạnh ai. Thơ Nguyễn Thuật giàu thi tính, nhiều thi ảnh đẹp, luôn có nội hàm sâu lắng, thơ có sự vang động của cái “ngôn ngoại” (ngoài lời), cái - không - nói vì tác giả chỉ gợi (ý tại ngôn ngoại). Hà Đình là một nhà thơ nắm vững phép tắc của thơ, nhất là thơ Đường luật, ông rất sành việc “lấy cái động để nói cái tĩnh, lấy cái hữu hình để nói cái vô hình, cái cụ thể để nói cái trừu xuất và ngược lại”- vận dụng được cái yếu tính “đối lập” cốt lõi của thi pháp thơ Đường dù là thơ ngôn chí, thơ tức sự, thơ vịnh phong cảnh, thơ thù tạc... bài nào của ông cũng lưu tâm đến hiệu quả bề sâu trong cảm nhận.
     Tác phẩm thơ chữ Nôm của ông có một số bài hát nói như “chữ tình”, “chữ nhàn”, “phận anh hùng”... “nói lên được cái sâu lắng mà hùng hồn , thản nhiên mà tự tại của kiếp nhân sinh giữa cõi đời đầy hệ lụy. Tứ thơ nhẹ nhàng, phơi phới đều được ngọn bút tài hoa cộng với một tâm hồn phóng khoáng phô bày một cách nhàn nhã mà hào hùng trong thi mạch Nôm của mình”(17). Sau đây là một số bài thơ Nôm:

Phận anh hùng
                                             Trời sinh đấng anh hùng hào kiệt
                                             Ắt trao cho những việc khó khăn
                                             Đã ra đời nào ngại gian nan
                                             Dẫu vinh nhục thăng trầm thôi cũng mặc
                                             Sơn hải quan ân thù vị đắc
                                             Phong ba thế cuộc hận nan bằng(18)
                                             Kìa những người gánh nặng thượng sanh
                                             Chưa biết hẳn Tạ An hay Ân Hạo
                                             Miễn cho hết tấm lòng đồ báo
                                             Dẫu giang hồ mà lăng miếu cũng không xa
                                             Mưa xuân rưới mát muôn nhà
                                             Nơi đồ họa, chốn hiên ba
                                             Mừng riêng đặng thái bình trong một cõi
                                             Dương Thúc Tử dấu xưa còn dõi
                                             Núi nghiêng kia mảnh đá để ngàn thu
                                             Khinh cừu hoản đới phong lưu(19)

Chữ Tình
                                             Chỉ nguyện hữu tình nhân giai ngã quyến
                                             Khi ngồi buồn lại nhớ chuyện Tây Sương(20)
                                             Kìa những người tài tử văn chương
                                             Cũng vì một chữ tình lăng líu mãi
                                             Thi nhân lão khứ oanh oanh tại
                                             Công tử quy lai yến yến mang(21)
                                             Lúc mua vui trong chén rượu phím đàn
                                             Nghĩ lại cũng ba sinh duyên nợ cũ
                                             Kìa Bạch Phó có nàng Phàn Tố
                                             Nọ Đông Pha lại ả Triêu Vân(22)
                                             Sẵn tay phong nhã chủ nhân
                                             Mượn bút mực vẽ màu son phấn
                                             Thế gian nhi hữu tình nan tận
                                             Rồi có lúc biển Việt non Tần thơ thẩn
                                             Cũng thương người lưu lạc giai nhân
                                             Đố ai dứt khỏi dương trần

Chữ Nhàn
                                              Ngã thị ngọc hoàn hương án lại
                                              Trích cư du đắc trú Bồng lai(23)
                                              Trong bụi hồng đua đuổi mặc ai
                                              Trường danh lợi xem lâu nghe cũng chán
                                              Duy giang thanh thượng phong dữ sơn giang minh nguyệt
                                              Tạo vật vô tận tận
                                              Trời cho ta riêng một chữ nhàn
                                              Nay Bàn A mai lại Kim Sơn(24)
                                              Thuyền một lá dạo chơi miền lưỡng mã
                                              Khi rượu, khi trà, khi thi, khi nhạc
                                              Khi cao bàn mãn tọa, khi hồng trục đương diên
                                              Đâu dám trông người gọi rằng tiên
                                              Họa may đặng thoát mà khỏi tục
                                              Đã phú quý cho hay tri túc
                                              Tham lam chi những cuộc ngoại thân
                                              Kìa kìa một đám phù vân

     Nguyễn Thuật về sáng tác - theo nhà nghiên cứu Nguyễn Q Thắng trong Hà Đình Nguyễn Thuật tác phẩm (in năm 2005)(25)- có thể chia làm hai loại sáng tác chung và riêng. Phần sáng tác riêng gồm các bộ : 1/ Hà Đình ứng chế thi sao gồm thơ Nguyễn Thuật họa lại thơ Tự Đức, hoặc làm theo đề do vua Tự Đức nêu ra; thơ họa đáp với bạn bè, vịnh sử, vịnh vật, vịnh cảnh, cảm hoài, ngôn chí...Trong bộ này có Mỗi hoài ngâm biệt tập ghi lại những bài thơ do ông sáng tác trong các chuyến đi sứ nhà Thanh  năm 1881,1883 ; 2/ Hà Đình văn tập nằm trong bộ Hà Đình thi văn tập (gồm thơ và văn) khắc in năm Duy Tân thứ tư (Canh Tuất, 1910). Phần Liễn đối gồm tập thượng và tập hạ cũng được khắc in cùng năm. Tập này gồm 244 câu đối tác giả viết trong các lễ khánh tạ, thi đỗ (Hương khoa và Hội khoa). Những người thi đỗ đều được tác giả tự ý sáng tác chúc mừng. Giá trị văn chương của câu đối Hà Đình cũng được giới văn chương đánh giá là tuyệt hảo ; 3/ Hà Đình văn sao gồm một số bài Biểu, Luận, Tự, Bi ,Trướng... khi ông được phong chức, tước hoặc cha, mẹ, anh, em ông được triều đình khen thưởng, một số bài ký như bài Bia Châu Phong, Bút Tháp, Minh Hương Tụy tiên đường bi kí...viết từ đời vua Tự Đức đến đời vua Thành Thái ; 4/ Mỗi hoài ngâm thảo, quyển chi nhứt (quyển I) là tập thơ ông sáng tác khi sung Phó sứ (Chánh sứ Phạm Thận Duật) năm 1881 và Chánh sứ (Phó sứ Trần Khánh Tồn) năm 1883. Tác phẩm có hai bài tựa của hai danh sĩ Trung Hoa: Hoàng Kiến Nguyên - Bảng nhãn khoa Mậu Thìn và Trần Khải Thái - Tiến sĩ Ngự sử Hàn lâm viện ; 5/ Mỗi hoài ngâm thảo quyển chi nhị (quyển II) cùng in năm 1910. Tập này gồm 101 thi đề (hơn 118 bài vì có thi đề gồm 2,3,6 bài) tập này "cũng hàm chứa một nội dung bao quát về ngoại cảnh, nội tâm của người đời đang hiện hữu giữa cuộc sống với vô vàn hệ lụy"(26) ; 6/ Hà Đình Ứng chế thi sao I - đây là một số bài thơ (sao chép lại) của ông cung kính đáp họa thơ vua (làm ra) ban cho tác giả Hà Đình ; 7/ Hà Đình thi thảo trích sao - tập này gồm một số bài ông sáng tác khi giao tiếp với các danh sĩ trong và ngoài nước, hoặc qua sinh hoạt trong cuộc sống, xướng họa với các thi hữu gồm hơn 168 bài (98 thi đề) ; 8/Hà Đình thi thảo trích sao (tiếp theo) - Tập này gồm một số bài thơ ông sáng tác trên đường đi sứ và thù tạc với bạn bè (26 bài) ; 9/ Vãng sứ Thiên Tân nhựt kí (khắc in 1910) -đây là tập nhựt ký của sứ đoàn Việt Nam do Thượng thư Phạm Thận Duật (1825-1885) làm Chánh sứ, Nguyễn Thuật làm Phó sứ sang Tàu do Nguyễn Thuật ghi chép ; 10/ Trung Triều định lệ (Những định chế Trung Quốc, phụ Triều Tiên) - tập này tác giả viết trong thời gian làm Phó sứ sang Thiên Tân, cùng thời điểm viết Nhật ký Thiên Tân ; 11/ Khoái thư trích lục (bản chép tay) do tác giả viết vào thời điểm ông về hưu lần thứ hai (1902)-nhà nghiên cứu Nguyễn Q Thắng gọi là "tạp bút" - gồm những bài viết cảm nhận về văn chương nghệ thuật, về những thú vui tao nhã của kẻ sĩ nhàn tản - nghĩa là những điều khoái (đã, thích, sướng...). Phần viết chung (in chung) với các vua tiền triều như: Lê Thánh Tông, Lê Chiêu Thống, Thiệu Trị, Tự Đức...cùng các đại thần, các bạn đồng liêu nổi tiếng là những văn nhân dưới triều Nguyễn như: Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, Trương Quốc Dụng, Trần Tử Mẫn, Vũ Phạm Khải, Trương Trọng Hữu, Bùi Dị, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Siêu, Cao Bá Quát, Phạm Quý Thích, Hoàng Quỳnh, Phan Thanh Giản, Nguyễn Trọng Hợp, Hoàng Diệu, Hoàng Hữu Xứng, Phạm Thận Duật, Cao Xuân Dục, Nguyễn Đức Đạt, Vũ Trinh...Trong những bộ sách viết chung này, có bộ do ông biên tập rồi trình lên vua cho chỉ dụ khắc in, có bộ ông tham gia theo chỉ dụ của vua, cùng một số quan ở Cơ mật viện, Lục bộ nội các, Sứ quán, Quốc tử giám đồng biên tập. Tác phẩm ông viết chung gồm: 1/Chư đề mặc - gồm thơ văn từ các đời còn lưu lại trên bia, vách đá, tại các thắng cảnh, di tích lịch sử ; 2 - Cung kỷ luân âm - gồm các bài châu phê, sắc, dụ, thơ, văn của vua Tự Đức ban cho Nguyễn Thuật khi ông làm việc tại Cơ Mật viện và được cử đi sứ Trung Hoa ; 3/ Dã sử - gồm 214 truyện dân gian như truyện kẻ trộm được phong Quận công, truyện đười ươi biết nói...cùng với thơ, minh, phú, câu đối của Nguyễn Thuật về: Lê Chiêu Thống, Phạm Phú Thứ, Bùi Dị, Nguyễn Thượng Hiền... ; 4/ Danh công thi thảo - gồm thơ của các tác giả nổi tiếng triều Nguyễn như Châu Giang Công Bùi Dị, Lập Trai tiên sinh Phạm Quý Thích, Khả Am tiên sinh Nguyễn Đức Đạt, Hà Đình Nguyễn Thuật, Tùng Thiện Vương, Tốn Phủ Hà Tôn Quyền. Tuy Lý Vương, Mai Am ; 5/ Danh sơn thắng thủy thi (còn gọi là Đại Nam danh sơn thắng thủy thi đề tập), gồm 93 bài thơ vịnh những phong cảnh nổi tiếng như núi Phả Lại, núi Câu Lâu, sông Thiên Trường, chùa Đại Bi... của danh nhân các đời như : Lê Thánh Tông, Trịnh Thánh Tổ, Phạm Lập Trai, Vũ Trinh, Nguyễn Thuật, Bùi Dị ; 6/ Đại Nam cương giới vựng biên-đây là tập bản đồ nước Việt Nam bao gồm : bản đồ tỉnh Thừa Thiên (Q.1), bản đồ các tỉnh (Q.2-Q.6), các thuyết về biên giới, sông, vịnh, các nước giáp giới và bài khảo về Vạn Tượng, Chiêm Thành, Chân Lạp (Q.7). Biên soạn quyển này gồm năm tác giả: Hoàng Hữu Xứng (1831-1905), Nguyễn Hữu Độ (1813-1888), Phan Đình Bình (1831-1888), Nguyễn Thuật, Hoàng Hữu Thường (1837-...) ; 7/ Đại Nam Quốc cương vựng biên (còn gọi là Đại Nam cương giới vựng biên lược sao) nội dung khảo về địa danh, diên cách, diện tích, cương giới của cả nước láng giềng và các tỉnh, 8/ Đại Nam Quốc sử tàng thư mục nội dung tập thành mục lục sách của thư viện Quốc sử quán triều Nguyễn, gồm 103 loại sách - do năm vị biên tập gồm : Trương Quang Đản (1833-1914), Nguyễn Thuật, Hoàng Hữu Xứng, Cao Xuân Dục (1842-1923) và Ngô Huệ Liên (...-1912) ; 9/ Hoàng Gia cẩm thuyết - gồm thơ văn của vua Tự Đức và quần thần trong đó có một số bài của Nguyễn Thuật ; 10/ Ngự chế Việt sử tổng vịnh - gồm 212 bài thơ vịnh đế vương, hậu phi, tôn thần, hiền thần, các bậc trung nghĩa, văn thần, võ tướng, liệt nữ, kẻ tiếm vị, bọn gian thần, những điều hay, việc tốt trong lịch sử. Nguyễn Thuật bổ chú cùng 13 văn thần; 11/ Tây Tra thi thảo - gồm 69 bài thơ của Nguyễn Trọng Hợp (1834-1902) làm trong khi đi sứ tại Pháp, vịnh phong cảnh cửa biển Cần Giờ, Tân Gia Ba, Cô-lông-bô, Hồng Hải, Kênh Suez, thành Paris, xem mặt trời mọc, xe máy lên núi...Sách được Nguyễn Thuật đề tựa ; 12/ Quốc triều danh nhân mặc ngấn - gồm 7 tập thơ của danh nhân triều Nguyễn mà tập thứ nhất là "Thanh Hóa Tổng đốc Hà Đình thi sao" có 11 bài thơ tả cảnh, tức sự ; 13/ Thi Thảo tạp biên - gồm 494 bài thơ của Nguyễn Phi Khanh (1355-1428), Trần Danh Án, Phạm Phú Thứ (1820-1883), Tuy Lý Vương (1820-1897), Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Đức Đạt (1824-1887), Trần Tử Mẫn (1822-1874), Nguyễn Thuật, Bùi Dị (1832-1895)... ; 14/ Tì Bà Quốc âm tân truyện - đây là bản diễn Nôm thể thơ lục bát vở "Tỳ bà kí" của Cao Minh. Các "Tựa, Bạt, Đề, Từ..." do Khiếu Năng Tĩnh (1835-1920), Nguyễn Thuật, Dương Khuê (1839-1902), Nguyễn Khắc Vỹ, Bùi Khánh Diễn soạn.Hà Đình viết tựa.
     Tài năng sáng tác thơ của Hà Đình không những được các văn nhân trong nước ca ngợi mà còn được các danh sĩ nước ngoài trọng vọng. Bảng nhãn Trung Hoa Hoàng Kiến Nguyên cho rằng thơ Hà Đình họ Nguyễn "bút lực mạnh mẽ có một sức riêng. Thơ ông giãi bày thẳng những gì nung nấu trong lòng. Lời thơ cứng mạnh, tuôn ra đều đúng ý theo đó, nhưng vẫn có quy củ bao trùm ở trên.Tài của ông tinh tế vào cõi thơ, há bỏ qua sự việc mà không vẽ ra được ư ?"(27)
     Tập thơ Mỗi hoài ngâm thảo quyển I có thật nhiều những bài hay, tương truyền có nhiều người cho là tuyệt bút là hai bài : "Lên lầu Hoàng Hạc" và "Đề lầu Hoàng Hạc".
Đăng Hoàng Hạc Lâu
                                              Trần mộng hoang hoang bất khí thâu
                                              Hoàng địa lão thượng tư tự lâu
                                              Tiên ông hà xứ thừa vân hạc
                                              Tha khách kim triêu thướng đẩu ngưu
                                              Giang khoát ngư long ba tiệm trướng
                                              Xuân thâm Anh vũ thảo do sầu
                                              Đăng lâm khước lạc Đường nhân hậu
                                              Doanh đắc kỳ quan viễn hải chu
              Dịch thơ :

                                              Cõi mộng mơ màng biết mấy thu
                                              Trời già đất cỗi vẫn nguyên lầu
                                              Tiên lên trời đã chìm mây hạc
                                              Khách cỡi bè nay vượt Đẩu Ngưu
                                              Làn sóng cá rồng sông dẫy nước
                                              Bài xuân Anh Vũ cỏ vương sầu
                                              Lên đây say nhượng người Đường trước
                                              Vượt biển ta giành cuộc thắng du
                                                                                         (Hoàng Tạo dịch)
     Một nhà nghiên cứu đã nhận định: "Sau Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu (bài thơ mà đến cả Lý Bạch cũng đành gác bút), nào có mấy bài về Hoàng Hạc Lâu không thẹn với thi tài Thôi Hiệu như bài này?” (28)
Đề Hoàng Hạc Lâu
                                             Ngọc dịch thanh tàng nhứt hạc phi
                                             Giang phong vô dạng nhập song suy
                                             Linh hòa lại hướng thiên gian ngữ
                                             Ba tịnh yên phù đại tác nghi
                                             Cảnh đáo tình dư kham nhập họa
                                             Bút tùng các hậu cánh vô thi
                                             Bạch vân diêu chỉ tây nam ngoại
                                             Thủy biện nga phân khả dương quy
                    Dịch thơ:

                                             Ngọc địch tàn rồi chim hạc bay
                                             Cây bàng cửa sổ gió lay lay
                                             Chuông vang sáo thổi trời trong khoảng
                                             Sóng nổi khói ùn đất mịt thay
                                             Sau lúc tạnh rồi hơn bức vẽ
                                             Đã đành gát bút khó đề thơ
                                             Xua ngoài mây trắng tây nam đó
                                             Mới thấy rằng đây rõ cảnh này
                                                                              (Nguyễn Q  Thắng dịch)
     
     Bài “Thính viên” thể hiện nỗi đau đời, nỗi lo nước của ông:
                                             Nham tùng yên lãnh nguyệt vi minh
                                             Ngũ dạ hảo viên giảo khách tình
                                             Bình nhật dĩ trừ tam phó lệ
                                             Bất quan thính nhĩ đáo tam thanh
     Dịch nghĩa: Khói lạnh trên cây núi trăng sáng nhạt, năm canh vượn hót xao động lòng lữ khách, ngày thường ta đã sẵn ba vốc nước mắt, chẳng cần nghe đến ba tiếng kêu của vượn. Chỗ này liên tưởng thơ Đỗ Phủ: "Viên mính tam thanh lệ triêm trường” (Nghe ba tiếng vượn kêu lệ rơi thấm áo)
     Dịch thơ: Nghe vượn kêu
                                              Trăng mờ khói lạnh cây lưng núi
                                              Vượn hót năm canh não dạ người
                                              Vốn sẵn ở đời ba vốc lệ
                                              Há vì ba tiếng mới tuôn rơi
                                                                                          (Hoàng Tạo dịch)
     Nỗi niềm lo dân, lo nước canh cánh khôn nguôi thể hiện trong bài Tức sự II:
Tức sự
                                              Tráng du nhân tận xỉ khinh phì
                                              Dục hiệu thừa sà sự dĩ phi
                                              Viễn hải khinh khan ngưu mã cập
                                              Đồng minh thùy niệm phụ xa y
                                              Vệ cầm hàm thạch không điền hận
                                              Việt điểu sào nam cảm quyện phi
                                              Văn nhạc bất phương trùng bái giáo
                                              Tần đình ưng vị phú Vô Y
     Dịch nghĩa: Cuộc chơi hùng ai nấy đều thích cỡi ngựa béo mặc áo cừu nhẹ. Ta cũng muốn làm như người đi sứ xưa nhưng việc đã khác rồi.Từ nơi mặt bể xa, loài ngựa trâu đã lầm mò đến được, bạn đồng minh ai là người chịu giúp nhau như môi với răng. Bể hận chưa lấp được đầy, chim Tinh vệ vẫn phải còn ngậm đá; chim Việt cành Nam đâu dám mỏi mệt không bay, nghe nhạc hay mà cải nhận tưởng chẳng hại gì, mong rằng trước sân Tần vì thơ ngâm bài thơ Vô y (thơ Vô y (Kinh Thi) có câu: Tu ngã qua mâu, dữ tử đồng cừu (sửa binh khí của ta, cùng người chống kẻ thù chung). Thân Bao Tư sang cầu viện khóc 7 ngày ở sân Tần, Tần ra quân cứu Sở.
      Dịch thơ:
Nói chuyện trước mặt
                                               Áo cừu ngựa mập khách du phương
                                               Chuyện cỡi bè xưa đã dở dang
                                               Đất cách ghe cho trâu ngựa gặp
                                               Nước gần ai nghĩ bánh xe nương
                                               Biển sâu đã lấp chưa nguôi giận
                                               Ổ cũ chim về vẫn thuộc đường
                                               Nghe nhạc thiệt lòng mong đợi nhỉ
                                               Sân Tần quân viện thuở nào sang?
                                                                                (Huỳnh Thúc Kháng dịch)

                                               Áo cừu ngựa béo thích chơi hùng
                                               Nhưng việc ngày nay thế chẳng xong
                                               Cách bể ngựa trâu tìm lối đến
                                               Nặng thề răng mép có ai không?
                                               Hồn tinh bể hận chưa yên sóng
                                               Chim Việt cành Nam dám quản công
                                               Nghe nhạc quản gì không vái nhận
                                               Sân Tần mong tấm áo mang chung
                                                                                  (Hoàng Tạo dịch)
     Mai Quốc Liên bình “Nhưng Trung Quốc lúc bấy giờ chẳng phải là nước Tần có thể cứu viện nước Sở...để ông (Hà Đình) trút lệ ở Tần đình. Vì thế mà ông buồn.Ông nói với nhân sĩ Trung Quốc mình là “Vong cơ ông”-“Ông lão quên đời” mà “thế cục” thì như “phù vân” (mây nổi). Đó là tâm sự bi quan yếm thế của cả một giai cấp lúc suy tàn. Do đó mà đi qua Ngọc Long Cương (nơi Khổng Minh ở ẩn), ông có câu thơ buồn ảo não:
                                               Ưng thiên nhất phó anh hùng lệ
                                               Thu thảo hoang lương Lạc phượng pha
                                               (Khóc đấng anh hùng phải thêm nguồn lệ nữa
                                               Kìa cỏ thu trên sườn đồi Lạc Phượng hoang vắng thê lương)
     Cũng, cùng nỗi buồn ấy, ông nhìn sông Hán và cảm thấy “giang lưu chung cổ tống tà dương” (Dòng sông muôn thuở vẫn đuổi theo bóng tà dương). Ông đổ mình là khách xa quê: “Thiên nhai huống thị khách tha hương” không phải chỉ vì thế. Tất cả những tình cảm đau buồn ấy ông như trút vào những thi tứ trầm thống và mênh mông trong bài thơ mà tôi cho là hay nhất của ông, bài "Đăng Hoàng Hạc Lâu”(29)
     Hà Đình cũng thành công về câu đối. Những câu đối chúc phúc nhân mùa xuân của Hà Đình đã trở thành mẫu mực cho các Nho sĩ đương thời như các câu đối sau:
                                               -  Nhơn thích lạc dao phong vật mỹ
                                               Xuân hồi đại địa tuế hoa tân
                                               (Người vui thích gió đồng nội cái gì cũng đẹp đẽ
                                               Xuân về tết đến, hoa nở sáng lại đất bao la)
                                               - Nhơn tại xuân đài diên tuế nguyệt
                                               Thế tư đức thọ phước nhi tôn
                                               (Người sống trên đền đài, mùa xuân kéo dài năm tháng
                                               Từng đời lan mãi cây đức hạnh là phước của cháu con)
     Câu đối mừng thi đỗ của Hà Đình chiếm số lượng khá lớn trong các sáng tác của ông. Một số câu đối được truyền tụng như câu đối chúc mừng em rể là Tú tài Võ Khánh:
                                               Quân gia nghi hữu văn nhơn đường hốt ấm di tam thế hậu
                                               Ngô môn hỉ đắc khoái tế hòe vi thu nhứt danh sơ
                                               (Nhà anh đã có người làm quan nổi tiếng phước che ba đời
                                               Cửa ta vui được rể quý đậu đạt khóa Thu đầu tiên)
                                               Chúc mừng Tú tài Lê Văn Tự (Quế Sơn) thi đậu:
                                               Đường thượng di nhan huỳnh quyển thanh đăng tân khổ hậu
                                               Bàng quang khởi sắc mặc trì tuyết lãnh phẩm bình gian
                                               (Chủ nhà phát vui sau gian khổ đèn xanh, quyển vàng
                                               Bảng đề chói sáng, ao mực đỉnh núi tuyết khen mãi phẩm cao)
     Mừng cử nhân Nguyễn Quang, người làng Ngọc Phố, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Bình:
                                               Ngô châu lãnh hương giải chỉ lục nhơn năng cư kì kiệt
                                               Đại gia tích thư công giả tam thế thỉ phát ư kim
                                               (Châu ta đậu Hương giải chỉ sáu người, ông trong số đó
                                               Nhà anh chứa sách, công học ba đời mới phát sáng hôm nay)
     Hà Đình có những thành tựu lớn ở mảng câu đối phúng điếu các anh hùng, danh sĩ, quan chức đồng liêu, người thân, tri kỷ.Câu đối điếu Hoàng Diệu tuẫn tiết khi thành Hà Nội thất thủ là một câu đối hay:
                              Khởi bất niệm cao đường thánh chủ ân thâm nghi tử báo
                              Thẩn năng nhiếp cường địch nhơn hoàn danh trọng tức sanh vinh
                              (Bởi không quên ơn chúa sâu nặng như nhà lộng lạc nên chết để báo đền
                              Vì trọng danh dự, không sợ cường địch, dám chết ấy là người sống vinh)
     Câu đối Hà Đình điếu cư sĩ Trần Viết Thọ, người Quảng Trị, từng đỗ Phó bảng, từng làm Chủ sự Bộ Lại, sung Cơ mật viện hành tẩu, Án sát sứ Quảng Nam, Đốc học Quảng Nam, bổ Thị giảng, xin về hưu, tu Phật và chọn cách”tự hóa hỏa” được sách Đại Nam chính biên liệt truyện ghi  chép như sau:
                              Tu đáo thử, khởi vô nhân, mạc vấn sinh thiên tiến thành Phật hậu
                              Tử như hà, bất tất biện,chỉ tranh khẳng khái dị thung dung nan
                              (Tu được thế, há ai người, chẳng phải hỏi trước lên trời sau thành Phật
                              Chết thế nào, không cần biện, chỉ vì tranh dễ khẳng khái khó thung dung)
     Câu văn Hà Đình vừa súc tích, khẳng khái vừa cận nhân tình, đơn cử như trường hợp viết biểu tạ ơn vua, dù là một đại thần, ông vẫn hết sức khiêm cung “thần gia thế nghèo hèn, học thức tầm thường”. Viết văn điếu Nguyễn Dục - người bạn đồng hương Quảng Nam, vốn là một nhà giáo trong cung - dạy học ở Dục Đức Đường, ông bình: “Nước có hạng người như thế mới dạy cho kẻ sĩ điều chân chánh. Nước không có hạng người ấy thì kẻ hậu tấn lấy gì làm khuôn mẫu. Ai thanh liêm không tham, ai lập dậy kẻ yếu? Quan hệ với thế đạo nào phải cạn cợt mà được. Há là để riêng một châu tôi thương tiếc hay sao?”. Viết tản văn cảm và luận về cái Đẹp, văn ông vừa thanh đạm vừa khinh khoái - ông viết về chim nhạn: "Nhạn nên bay qua trời, bay qua viễn phố, qua bến bãi sông, nên bay qua quan san cùng mảnh trăng, nên bay qua vạn nhà đập chày giặt áo, đưa tiếng mùa thu đi xa, nên bay qua vạn dặm lau lách, lạnh vì sắc sương” (Linh động - Khoái thư trích lục).Viết về hoa sen - loài hoa mà ông chọn làm hiệu danh; “Hoa sen hương thơm tỏa ngát xa, sáng sương đọng như hạt châu, áo xanh dường như khói, trang điểm màu hồng trên mặt nước” (Rừng thơm - Khoái thư trích lục).Viết về thơ: “Thi ca đẹp hơn hoa đẹp, vượt hơn như người đẹp khuynh thành, hòn ngọc trong suốt chiếm hơn sắc đẹp liên thành” (Không đề-Trích thư khoái lục).
     Nhà văn Vũ Ngọc Phan trong hồi ký có nói trong nhà ông hồi trước có giữ một đôi câu đối khắc chữ của Nguyễn Thuật. Nguyễn Thuật “viết chữ tốt nổi tiếng mà thơ hay cũng nổi tiếng”(30). Đặc biệt ông còn có tài năng hội họa. Nổi bật nhất và tác phẩm duy nhất còn lưu lại là bức “Trùng du Bàn A sơn” (Lại đi chơi núi Bàn A). Nhà phê bình mỹ thuật Thanh Loan nhận xét: “Bàn A sơn (còn gọi núi Vồm) thuộc làng Vồm xã Thiệu Khánh, huyện Thiệu Yên, Thanh Hóa. Đây là một dãy núi đẹp được các vua, chúa, quan lại thời Lê, Lý, Trần thường đến nghỉ ngơi, chiêm ngưỡng. Gắn liền với dãy núi là vô số di tích văn hóa, lịch sử có giá trị cao như: Sông Chu, Núi Đọ, Chùa Vồm, Ghè Ông Vồm, Thành Tư Phố. Thắng cảnh này là nguồn sáng tạo cũng như là nơi ghi dấu bao tuyệt tác văn chương (Lê Cảnh Thống, Ngô Thời Nhậm). Nhưng may mắn và tự hào hơn cả là danh thắng này được thể hiện qua nét họa tài hoa, với ý thi tao nhã, thư pháp tuyệt vời của vị đại thần, danh nhân Nguyễn Thuật. Họa phẩm Trùng du Bàn A sơn được vẽ bằng màu nước trên giấy lúc ông làm Tổng đốc Thanh Hóa (1887-1893). Căn cứ nội dung, bài thi nhất là thủ bút của tác giả được viết trên gỗ vào năm Thành Thái Nhâm Thìn Thu (1892) hiện còn lưu trữ tại nhà hậu duệ của ông; tác phẩm được thực hiện vào năm 1892 (hoặc có thể sớm hơn). Xem họa phẩm ta thấy màu chủ đạo là màu xanh nhạt, đây là kiểu tạo màu “đạm thái” của Trung Quốc họa. Nó có thể xuất phát từ “khinh phất đan thanh” (nhẹ phớt màu sắc) của Ngô Đạo Tử (680-?). Quan sát các ngọn núi Bàn A trong tranh ta thấy sự thể hiện không gian, màu sắc thật tinh tế. Ngọn núi gần thấy lớn, được tạo thành bằng những nét đậm nhạt cho thấy cả hình khối, sự hùng vĩ của ngọn núi. Các cây trên đỉnh núi hình thành bằng những nét chấm phá một cách phóng khoáng nhưng không thiếu sự tinh vi về cách phân bổ. Qủa là “thạch phân tam diện - thụ phân tứ kỳ”. Ngọn núi xa thì nhỏ hơn, chỉ thấy những rặng cây xanh xanh ở chân núi. Đỉnh núi cũng được dùng màu đen đậm hơn, không thấy được bề của ngọn núi. Ngọn núi xa nhất thì nhỏ hơn cả và được chuyển qua màu xanh nhạt nhẹ, cho thấy như đã giao hòa với đất trời. Màu đen, xanh đậm, nhạt của nước cho thấy sự sâu thẳm chuyển động. Vì “nước trong tranh không chảy chỉ là nước chết” (Quách Hy,1020-1090). Một con thuyền đơn chiếc nhưng trông bình an giữa vùng nước bao la, đây là lối tả ý cho thấy sự sống đang dâng trào dưới khung cảnh êm đềm, mơ mộng dù không xuất hiện bóng con người. Hàn lâm đồ họa viện của Tống Huy Tôn trong một kỳ thi họa diễn ý câu thơ “Đạp hoa quy khứ mã đề hương” (con ngựa giẫm hoa trở về móng còn thơm), tác phẩm đạt giải là bức tranh những con bướm bay theo gót chân ngựa. Đây là đặc điểm của lối tả ý trong hội họa Trung Hoa. Như Tông Bình (375-443) trong luận họa sơn thủy đã nói: “Đó là vì cách xa cảnh thì càng thấy nhỏ”, ở đây họa gia, danh thần Nguyễn Thuật đã “lấy màu sắc vốn có mà vẽ nên tranh”. Ông vận dụng tinh thông phép thấu thị, tam viễn trong sơn thủy họa đã hòa nhập vào thiên nhiên với sự quan sát tinh tường và lòng yêu mến quê hương sâu sắc để sáng tác.Ông đã trải núi lòng qua bài thi trên họa phẩm:
                                             Trùng du Bàn A sơn
                                             Hà niên câm khiếu thủy vân ôi
                                             Liêm sử phong lưu vị dịch tài
                                             Triều thị kỷ canh sào tự tại
                                             Giang sơn như tạc ngã trùng lai
                                             Nghinh huân tọa tảo nham hoa lạc
                                             Chữ mính tuyền phân thạch tỉnh khai
                                             Dịch dịch thế đồ nhơn diệc lản
                                             Bất phương trụ trượng địch phù ai
              Nghĩa
:
                                             Lại đi chơi Bàn A sơn
                                             Năm nào vùng nước lạnh căm xa vắng
                                             Khiến phong lưu không trổ được tài
                                             Làm quan hay làm dân bao lần vẫn tự tại
                                             Giang sơn như cũ ta lại đến đây
                                             Đón hơi thơm, ngồi quét hoa rơi bên hang đá
                                             Nấu trà nước suối, sẵn đây giếng mời
                                             Mãi lo toan, đường đời ai cũng mệt
                                             Nhại gì chống gậy chơi giặt sạch bụi mù
                                                                                                          Hà Đình
     Danh nhân Nguyễn Thuật để lại nhiều tác phẩm sơn thủy họa nhưng do thời tiết và chiến tranh nên hầu hết đã mai một, trong đó có tác phẩm về núi Kim Sơn (Thanh Hóa) hư hỏng do mưa lũ trong thập niên 80 - thế kỷ XX. Ông cũng là vị đại phu để lại nhiều tác phẩm thư pháp,bi ký cả trong và ngoài nước”.(31)
     Hà Đình là nhà văn hóa lớn. Hồi còn tại thế, vua Tự Đức viết về ông: “Nguyễn Thuật là người tuổi trẻ tân tiến, hiếu học, thông minh đĩnh ngộ, biết lẽ phải, không a dua theo kẻ khác” (sắc phong).
     Vua Thành Thái trong một sắc khen tặng, có viết: “Nguyễn Thuật là người khí tượng cao khiết, học thức uyên bác, giỏi mưu kế, mở mạnh uy tín triều đại sáng rỡ, là một quan điển hình được triều đình trọng vọng, bạn đồng liêu khen ngợi không ngớt, (ông) từng đem ơn ích cao thượng cho bao kẻ khốn cùng, chú niệm bảo vệ, sửa sang nhân phong làm cho nó lan tỏa khắp chốn. (ông) một lòng khiêm trinh, là bực hiền thần phụ tá ưu ái không nguôi từng lập bao thành tích. Từ lâu ở triều đình cho tới biên quận, đâu đâu cũng kính trọng ông vì đức hạnh (ông) luôn luôn chăm lo cho dân không ngừng nghỉ. Thật ông là một người xứng đáng làm mẫu mực cho vạn thế”.
     Danh sĩ Đào Tấn - tác gia tuồng lỗi lạc sinh thời rất quý trọng tài năng, nhân cách ông và có tặng ông bài thơ:
Ký hoài Hà Đình Công
                                              Tuế mộ hoài nhân ký viễn thư
                                              Hà Đình phong cảnh cận hà như
                                              Niên niên kỷ thủ nham đầu nguyệt
                                             Thập nhị hồi viên đáo tác cư
               Dịch thơ:
Nhớ ông Hà Đình gởi thư thăm
                                              Nhớ người năm hết thư trao
                                              Nhà sen phong cảnh thế nào hở anh?
                                              Mải nhìn bóng nguyệt đầu ghềnh
                                              Tròn mười hai độ nơi mình sáng soi
                                                                                       (Tống-Vũ dịch)
                                             - Năm tàn nhớ bạn gởi thư thăm
                                             Ra sao rồi nhỉ cảnh nhà sen?
                                             Đầu ghềnh anh giữ vầng trăng sáng
                                             Tròn mười hai nguyệt chiếu nơi tôi
                                                                                        (Nam Diêu dịch)
     Trong bài Phú Tỉnh Quảng Nam của Nguyễn Đình Hiến (Phó bảng làng Trung Lộc, Quế Sơn) có câu truyền tụng như sau:
                      “...Võ cao nhứt phương bồng thủ, Hồ Thượng Công chế khổn tài năng
                      Sương nghiêm lưỡng độ hoàng hoa, Nguyễn Thiếu Phó đương triều vỹ lược...”
        Tạm dịch:
                      Một phương trọng trấn, Hồ Thượng Công ân đức thấm nhuần
                      Hai độ sứ trình, Nguyễn Thiếu Phó tài ba lỗi lạc
                                        (Hồ Thượng Công là Hồ Lệ. Nguyễn Thiếu Phó là Nguyễn Thuật)
     Ông được hậu thế tôn xưng là người có năng lực phi phàm “tú ngữ đoạt sơn lục” - (lời đẹp hớp hồn núi xanh)
P.T.Đ

Chú thích:
(1) Hồ Ngận (di cảo)-Quảng Nam xưa nay-NXB Thanh Niên, Hà Nội-2004 tr.232
(2) Hà Ngại (hồi ký)- Khúc Tiêu đồng-NXB Trẻ Tp.HCM-2014 tr.110
(3) Tuyển tập Cao Xuân Dục (Tập 5)-Quốc sử quán triều Nguyễn- Đại Nam chính biên liệt truyện-NXB Văn Học 2004 tr.970-972
(4) Tuyển tập Cao Xuân Dục (Tập 5)-sđd- tr.809
(5) Tuyển tập Cao Xuân Dục (Tập 5)- sđd-tr.812
(6) Bia số 8 (Xem phụ lục về đề tài “Phát huy giá trị Văn Miếu Hà Lam” -2014)
(7) Hồ Ngận (di cảo)-Quảng Nam xưa nay- sđd-tr.232
(8) Quốc sử quán triều Nguyễn-Đại Nam thực lục (Tập 9)-NXB Giáo dục,Hà Nội-2007 tr.359,364,372,366,444
(9) Quốc sử quán triều Nguyễn-Quốc triều chính biên toát yếu (Tập 1)-NXB Thuận Hóa, Huế-2013 tr. 394
(10) Cuộc đời cách mạng của Cường Để-Nhà in Tôn Thất Lễ, Sài Gòn 1957 tr.13-14
(11) Lê Thị Kinh-Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới-NXB Đà Nẵng 2001 tr.49
(12) Hồ Ngận (di cảo)-Quảng Nam xưa nay-sđd-tr.236
(13) Hồ Ngận (di cảo)-Quảng Nam xưa nay-sđd-tr.233-234
(14) Hồ Ngận (di cảo)-Quảng Nam xưa nay-sđd-tr.234
(15) Hồ Ngận- (di cảo)-sđd-tr.234
(16) Hồ Ngận (di cảo)-sđd-tr.234
(17) Hà Đình-Tác phẩm (Nguyễn Q Thắng giới thiệu, biên dịch)-NXB Tổng hợp Tp HCM-2005 tr.12
(18) Câu “Sơn hải quân ân thù vị đắc-Phong ba thế cuộc hận nan bằng”: ơn của vua như núi,biển khó (chưa) trả được/cuộc đời sóng gió hận không làm yên được
(19) Lấy ý từ câu “phi mã ý khinh cừu”-nghĩa là mặc áo lông cừu nhẹ nhưng vẫn giữ được nét phong lưu
(20) Truyện “Tây Sương ký” của Vương Thực Phủ nói về đôi trai tài, gái sắc Trương Quân Thụy, Thôi Oanh Oanh
(21) Thi nhân về già thì nhẹ nhàng rút khỏi cuộc chơi/Công tử hào hoa vẫn vui chơi với đời
(22) Tức Tô Đông Pha có nàng hầu là Triêu Vân là một giai nhân cũng là tri âm, từng theo Đông Pha suốt thời gian lưu đày
(23) Nghĩa: Ta vẫn ngồi trên án thư của một quan lại nhưng lòng như bị níu kéo về chốn Bồng Lai
(24) Bàn A, Kim Sơn: Núi Vồm, núi Kim Sơn:hai địa danh có phong cảnh đẹp của Thanh Hóa
(25) Hà Đình-Tác phẩm-Sđd-tr 14
(26) Hà Đình-Tác phẩm-Sđd-tr.30
(27) Hà Đình-Tác phẩm-Sđd-tr.19
(28) Mai Quốc Liên-Hai danh sĩ đất Quảng-Tạp chí Đất Quảng (Hội Văn học-Nghệ thuật QN-ĐN) Số 55 (1/12/1988)tr.83-84
(29) Mai Quốc Liên-Hai danh sĩ đất Quảng-Bđd-tr.84
(30) Mai Quốc Liên-Hai danh sĩ đất Quảng-Bđd-tr.84
(31) Thanh Loan-Trùng du Bàn A sơn-Tạp chí sông Hương, Huế số 240 (Tháng 2/2009)
P.T.Đ

Các tin khác:

CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ








Thông báo
















Thống kê truy cập

00006009498

Hôm nay: 2459
Hôm qua: 6694
Tháng này: 81671
Tháng trước: 93608
Số người đang Online: 93