Chào mừng kỷ niệm 88 năm Ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam (18/11/1930 - 18/11/2018)!
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Danh nhân

Cuộc đời và sự nghiệp Hà Đình Nguyễn Thuật

Tác giả: Nguyễn Công Tài Ngày đăng: 10:11 | 21/08/15 Lượt xem: 3698

Nhận được tin Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch Quảng Nam; UBND huyện Thăng Bình phối hợp cùng Hội Khoa học lịch sử Việt Nam và các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong cả nước tổ chức hội thảo khoa học về: “Hà Đình Nguyễn Thuật- Danh nhân văn hóa” vào ngày 15/9/2015. Gia đình chúng tôi - là hậu duệ đích tôn của cụ thật xúc động, vui mừng bởi sự kiện vô cùng ý nghĩa này, vì công đức của bậc tiền nhân có nhiều đóng góp cho đất nước, quê hương đã được xã hội, được chính quyền càng ngày quan tâm - vinh danh.

     Cụ Nguyễn Thuật, hiệu là Hà Đình, tự là Hiếu Sinh, sinh ngày 13 tháng 5 năm Nhâm Dần (1842) tại làng Hà Lam, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (Nay là tổ 10 thị trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam). Thủy tổ của gia tộc là ngài Nguyễn Công Châu, nguyên quán làng Hiu, xã Bình Luật, phủ Thạch Hà, trấn Nghệ An. Đời vua Lê Thánh Tông (1471) vào khai khẩn rồi định cư nơi đây. Thân phụ là Nguyễn Đạo (1803-1872), từng hai lần đỗ Tú tài; các anh em con cháu cùng thời  đỗ đạt khoa bảng rất nhiều. Đương thời, gia đình cụ luôn được nhân dân hết mực truyền tụng về phẩm hạnh và gia phong. Thưở nhỏ, cụ vốn nổi tiếng thông minh, hiếu học; được cha cho theo học tại trường Huấn Thăng Bình rồi trường Đốc Quảng Nam.
     Năm Tự Đức thứ 20 (1867) cụ đỗ Cử nhân, năm Tự Đức thứ 21(1868) đỗ Phó bảng, được bổ nhiệm vào Thị lang tại Nội các, rồi thăng làm Giáo đạo trường Dưỡng Thiện dạy các Hoàng tử. Năm Tự Đức thứ 34 (1881) thăng hàm Tham tá Các vụ, lãnh  Hộ bộ Thị lang, rồi làm Chánh sứ sang Trung Quốc. Đến năm Tự Đức thứ 36(1883), lại được cử làm Phó sứ, cùng Chánh sứ Phạm Thận Duật  sang Trung Quốc hội thương tại Thiên Tân. Trở về nước, được cử ra làm Tuần vũ Thanh Hóa. Đến năm 1885, lại được cử làm Khâm sai Tả trực Tuyên úy, rồi Thượng thư bộ Hộ, Thượng thư bộ Lại, gia hàm Thái tử Thiếu bảo. Năm Đồng Khánh thứ hai(1887), được cử làm Tổng đốc Thanh Hóa và làm chánh chủ khảo kỳ thi Hương trong năm này. Năm Thành Thái thứ năm(1893) được triệu về kinh và được phong hàm “ Hiệp tá Đại học sĩ”, tước An Trường tử, lãnh chức Thượng thư bộ Binh, sung Cơ Mật viện đại thần. Năm Thành Thái thứ tám (1896),với cương vị Phó tổng tài Quốc sử quán đã nhận lệnh cùng với Trương Quang Đản soạn cuốn Sử quán thư mục. Năm Thành Thái thứ mười ba (1901), do bất hòa với Hoàng Cao Khải và chống đối với Nguyễn Thân, vì việc thất nhân tâm chém chết mấy chục người thuộc chi đảng của Phan Đình Phùng, nên ông xin vê hưu. Qua năm sau (1902) giữa Nguyễn Thân và Hoàng Cao Khải bất hoà , triều đình thải hồi cả hai, liền đó vua Thành Thái có chỉ triệu Nguyễn Thuật và cựu Thượng Thư Hồ Lệ (Đại Lộc) về kinh thay 2 nhân vật trên.  Cụ trở lại triều đình và giữ chức Thượng thư cho đến lúc về hưu lần 2, rồi mở trường dạy học tại quê nhà. Kính trọng, người dân địa phương thường gọi là “Cụ Thượng Hà Đình”.  Đến năm  Tân Hợi (1911) cụ  qua đời tại quê nhà thọ 69 tuổi.
     Với bốn mươi năm trải nghiệm chốn quan trường, cụ được triều đình ân chuẩn các chức hàm:  Thái tử Thiếu bảo,  hiệp biện Đại học sĩ,  lĩnh chức  Thượng Thư  (trải đủ cả 6 Bộ), sung Cơ Mật viện đại thần, Kinh diên Giảng quan, Phó Tổng tài Quốc sử quán, tước An Trường tử., hàm Tòng Nhất phẩm.
     Sau khi mất được vua Duy Tân truy tặng: “Đc tiến Vinh Lộc đại phu, Đông các Đại học sĩ”.
     Song song với con đường hoạn lộ chốn quan trường- cụ được các vua trọng vì tài, nể vì đức, được giao phó gánh vác những việc quốc gia đại sự,  cụ còn là nhà văn, nhà thơ, nhà sử học và là một họa sĩ, một người viết thư pháp độc đáo. Chỉ riêng về văn học, cụ đã có hơn 500 bài thơ, 300 áng văn, chưa tính đến những sớ tấu, thư họa, lời tựa.. viết cho các tác giả đương thời. Cụ đã để lại cho thế hệ sau một sự nghiệp thơ văn phong phú và đồ sộ có giá trị, xứng đáng là nhà văn hóa  lớn của dân tộc. Chính vì vậy mà nhà nghiên cứu Nguyễn Q Thắng viết “Số tác phẩm của Hà Đình Nguyễn Thuật rất đa dạng, phong phú không những về số lượng mà còn về chất, mỗi khi nhà văn ký thác tâm tư, tình cảm, ngôn chí của mình qua từng trang viết. Đó là những đóng góp phong phú của Nguyễn Thuật đối với học thuật, văn hóa Việt Nam vào thời cận đại”. Tuy nhiên các công trình lịch sử, văn học cho đến nay không hề nhắc đến ông. Đây là nỗi niềm trăn trở của gia đình, tộc họ, sự thiệt thòi- thiếu công bằng không chỉ đối với cá nhân cụ, mà cho cả lịch sử- văn hóa nước nhà cũng như những người tâm huyết với sự nghiệp văn hóa của cụ trong giai đoạn hiện nay.
     Tuy làm quan đại thần qua 8 đời vua, từ Tự Đức đến đời vua Duy Tân nhưng gia cảnh vẫn thanh bạch, đương thời được nhân dân và sĩ phu trọng vọng, làm tấm gương sáng cho con cháu gia đình và nhân dân địa phương noi theo. Cụ luôn giữ  đức tính liêm khiết- khiêm tốn, có lối sống thanh bạch vì nước vì dân, luôn  thể hiện tấm lòng thương dân, gần dân, trọng dân và cách hành xử của con người xuất thân từ tầng lớp lao khổ, cụ  từng tự nhận: “Thần là người quê phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Phủ của thần từ trước nhiều người đi làm quan, chưa ai có văn tới Nhứt phẩm. Thần gia thế nghèo hèn,học thức tầm thường…” (Dẫn theo Nguyễn Q Thắng, Sống đẹp với Hà Đình Nguyễn Thuật, Sdd,tr27). Là người yêu nước, thương dân, có trách nhiệm trong công việc, tư tưởng, hành động ấy được thể hiện ngay trong bài viết “Tiễn Cơ Mật viện Trương Tố Trai chi Khoái Châu thủ tự” (Thuật lại buổi tiễn đưa Chủ sự Viện Cơ mật Trương Tố Trai đi trấn thủ Khoái Châu). Cụ viết để giải thích địa danh mà đau đáu như một lời dặn dò làm quan phải biết đến an dân: Làm quan ở Khoái giỏi nhớ tên nó suy nghĩ, nghĩa là tới nơi đó dò để tìm kiếm an lợi cho dân, ai đói nghèo thì cho ăn uống, ai đau nhứt than rền, ai bị nguy khốn thì cứu vớt, ngọai trừ cái không Khoái, gạn lấy cái Khoái thôi, cho nên dân đẹp lòng…”.
     Đối với sự nghiệp giáo dục cụ rất quan tâm, đào tạo nhân tài cho đất nước. Với cương vị là giáo thụ trường Dưỡng Thiện tại kinh đô Huế, cụ có công dạy dỗ các hoàng tử, làm chánh chủ khảo các kỳ thi, lúc về hưu tại quê nhà cụ lại mở trường dạy học, nhằm mở mang dân trí, đào tạo hiền tài cho quê hương. Là người luôn quan tâm việc tôn tạo các công trình lịch sử - văn hóa của quê hương, thể hiện rõ qua việc nghiên cứu, vận động, ủng hộ xây dựng Văn thánh Hà Lam, khơi dòng đặt tên Hà Kiều; tôn tạo đình- miếu-Tiền hiền Hà Lam, mà nay bút tích văn bia vẫn còn lưu lại.
     Trải qua thăng trầm của lịch sử, thời gian, cùng cách làm theo cảm tính hạn hẹp một thời, đã dẫn tới việc di dời nhà cụ, khiến cho nhiều tư liệu có giá trị liên quan đến cụ Hà Đình Nguyễn Thuật đã bị hư hỏng và mất mát, thất tán. Ngôi nhà của cụ không còn nữa, nay chỉ là bãi đất trống, ngôi mộ của cụ cũng bị di dời đến một nơi mới, dù được con cháu trong gia đình cùng bà con đóng góp xây dựng lại vào năm 2005, được công nhận là di tích cấp tỉnh năm 2011, song chưa xứng với qui mô là di tích lịch sử- văn hóa cấp tỉnh. Do đó chúng tôi mong mỏi lãnh đạo các cấp chính quyền, các nhà nghiên cứu khoa học có những quan tâm, cụ thể như:
     1. Số lượng tác phẩm đồ sộ của cụ hiện đang lưu giữ tại thư viện Hán Nôm Hà Nội cần được đầu tư nghiên cứu, dịch thuật, phổ biến rộng rãi đến công chúng.
     2. Làm rõ một số đánh giá thiếu cơ sở khách quan, có tính áp đặt khiến cho  nhiều người hiểu sai về vai trò, tầm vóc của cụ, đặc biệt là dư luận nói rằng cụ đã chèn ép sĩ tử Quảng Nam trong khoa thi Mậu Tuất (1898), tức khoa thi  gắn liền với danh xưng “Ngũ phụng tề phi”.
     3. Cần đầu tư, quy hoạch khu di tích mộ cụ Hà Đình Nguyễn Thuật theo đúng khuôn mẫu di tích lịch sử- văn hóa cấp tỉnh.
     4. Dành một phần đất tại vườn quả- tức ngay trên khu vườn nhà cũ mà nhà nước đã di dời năm 1981, để  tôn tạo xây dựng lại ngôi nhà thờ và khu di tích- tưởng niệm cụ.
     5. Để góp phần giáo dục truyền thống và vinh danh cụ, nên có một ngôi trường mang tên Nguyễn Thuật trên địa bàn huyện nhà, đồng thời có kế hoạch đưa một số nội dung, kiến thức về thân thế sự nghiệp- tác phẩm của cụ Hà Đình  Nguyễn Thuật vào chương trình giảng dạy phổ thông ở địa phương.          
     Thời đại cũng như cuộc đời của Hà Đình Nguyễn Thuật đã đi qua, nhưng sự nghiệp vẫn còn lưu dấu trong lịch sử nước nhà. Cụ không chỉ là người con trong gia đình - họ tộc, quê hương, mà là bậc danh nhân của đất nước, thân thế cụ đã hòa vào cây cỏ- đất đai quê nhà; linh hồn cụ đã cùng mây nước phiêu diêu cánh hạc. Thời gian, biến cố lịch sử và cả sự vô tình của con người đã làm cho dần tàn phai dấu tích, song với lương tâm và trách nhiệm không cho phép chúng ta quên lãng. Hội thảo khoa học sắp tới chúng tôi hi vọng rằng các giá trị trong cuộc đời và sự nghiệp cụ Hà Đình lại trả về đúng vị trí- tầm vóc vốn có, lại được tỏa sáng bởi tình yêu nước thương dân của một danh nhân văn hóa.
Nguyễn Công Tài
N.C.T

Các tin khác:

CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ








Thông báo
















Thống kê truy cập

00006196837

Hôm nay: 1844
Hôm qua: 6974
Tháng này: 56144
Tháng trước: 99301
Năm này: 863795
Số người đang Online: 90