Chào mừng kỷ niệm 88 năm Ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam (18/11/1930 - 18/11/2018)!
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Danh nhân

Nguyễn Thuật mẫu người trí thức yêu nước thương dân

Tác giả: Phạm Phú Phong Ngày đăng: 8:30 | 27/05/15 Lượt xem: 6747


Hà Đình - Nguyễn Thuật
     Nguyễn Thuật (1842-1911) là nhà văn, nhà thơ, nhà sử học, nhà giáo dục học và là một họa sĩ, một người viết thư pháp độc đáo. Chỉ tính riêng về văn học, ông đã có hơn 500 bài thơ, 300 áng văn, chưa tính đến những sớ tấu, thi họa, lời tựa viết cho các tác giả đương thời. Vậy mà, trong các công trình lịch sử văn học trước đây không hề nhắc đến ông [ Việt Nam cổ văn học sử (1940) của Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam văn học sử yếu (1941) của Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử trích yếu (1949) của Nghiêm Toản… và cả trong các công trình nghiên cứu lịch sử văn học của các tác giả hiện đại như Huỳnh Lý, Bùi Văn Nguyên, Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng]. Gần đây, người có công phát hiện ra ông là Nguyễn Q. Thắng với các công trình Hà Đình Nguyễn Thuật – tác phẩm (Nxb TP. Hồ Chí Minh 2005, 830 tr.) và Sống đẹp với Hà Đình  Nguyễn Thuật  (Nxb Văn học 2009, 380 tr). Có nhiều lý do để giải thích cho sự lãng quên này, hoặc do thiếu tư liệu, người nghiên cứu chưa tiếp cận với tác phẩm của ông, hoặc do hoạn lộ quan trường của ông quá dài, lấn át cả sự nghiệp văn chương… Bất kỳ vì lý do gì, thì sự lãng quên của lịch sử văn học đối với một tác giả như Nguyễn Thuật, quả là điều đáng tiếc.
     Nguyễn Thuật, còn có tên là Nguyễn Công Nghệ, hiệu là Hà Đình, tự là Hiếu Sinh, quê làng Hà Lam, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Hoa, trấn Quảng Nam (nay là thị trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam), cha là Nguyễn Đạo một bậc túc nho nghĩa sĩ, chú là Nguyễn Tạo, một vị quan thanh liêm tài giỏi, em ruột là Nguyễn Duật, từng tham gia Nghĩa hội (tổ chức yêu nước cuối thế kỷ XIX), làm đến chức Tán tương quân vụ, chiến đấu hy sinh đến giọt máu cuối cùng… Đó là ngọn lửa truyền thống cháy mãi không nguôi trong huyết quản Nguyễn Thuật, hun đúc nên một nhân cách danh sĩ, yêu nước, thương dân, dám chống lại những thế lực bạo quyền đi ngược lại lợi ích của nước, của dân. Thuở nhỏ, Nguyễn Thuật học tại gia, rồi vào trường Huấn Thăng  Bình, trường Đốc Quảng Nam. Đỗ cử nhân ở trường Thừa Thiên năm 25 tuổi (1867), năm sau đỗ Phó bảng (1868) và bắt đầu con đường hoạn lộ bằng chức quan Thị Lang, Biên tu Hàn Lâm viện nội các, cho đến khi nghỉ hưu (1908), tròn bốn mươi năm làm quan, ông đã kinh qua các chức vụ như tham tá, tuyên úy sứ, tổng đốc, năm lần giữ chức thượng thư các bộ Hộ, Lại, Binh, Lễ; được bổ hàm Thị lang nội các, Giáo đạo (dạy các hoàng tử), Thái tử thiếu bảo, Hiệp biện đại học sĩ, Quản lãnh Lại bộ thượng thư, Sung cơ mật viện đại thần, Kinh Diên giảng quan, Tổng tài quốc sử quán, Chánh nhất phẩm, Đông các đại học sĩ, phong tước An Trường Tử, dưới thời tám vua Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân; từng đi sứ sang Trung Quốc, từng làm chánh chủ khảo nhiều cuộc thi Hương (Nam Định 1879, Thanh Hóa 1884), quan duyệt quyển thi Hội (Huế 1877, 1884) và làm chánh chủ khảo thi Hương và thi Hội (Huế 1884), tiền lệ chưa có một vị quan nào được giao nhiều trọng trách trong việc tuyển chọn nhân tài cho đất nước nhiều như ông. Ấy vậy mà, ông vẫn giữ được tâm hồn trong sáng, nhiệt huyết vì dân.         
     Suốt cuộc đời làm quan của Nguyễn Thuật, khi ở trong triều cũng như khi về các địa phương, ông đều thể hiện tư tưởng thân dân, gần dân, yêu dân, trọng dân và cách hành xử của người xuất thân từ tầng lớp lao khổ, như ông từng tự nhận “Thần là người quê ở phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Phủ của thần từ trước nhiều người đi làm quan, chưa ai có văn tới nhứt phẩm. Thần gia thế nghèo hèn, học thức tầm thường…” (Dẫn theo Nguyễn Q. Thắng, Sống đẹp với Hà Đình Nguyễn Thuật, Sđd , tr.27). Ở ông không chỉ có đức khiêm tốn của bậc thức giả, mà còn có sự thẳng thắn, chân tình, không tỏ ra ương ngạnh nhưng có sự khẳng khái, chính trực, hiên ngang của con người xứ Quảng và là một trong những người tiên phong thể hiện văn hóa từ chối sự thăng quan tiến chức, khước từ bổng lộc của vua ban. Năm 1891, sau hơn bảy năm làm Tuần phủ rồi Tổng đốc xứ Thanh, vua Thành Thái đã thăng hàm Hiệp biện đại học sĩ cho ông, ông đã khẳng khái dân sớ xin từ, mà rằng: “Cuối đầu mong Hoàng thượng ngó xuống soi xét dùm cái ngu trung của thần mà rút lại lệnh đã ban ra kia, cho phép thần chỉ giữ chức cũ thôi. Nhờ đó được yên tâm làm việc.” (Sđd, tr.28). Năm 1901, khi đang giữ chức Thượng thư bộ Binh, sung Cơ mật viện đại thần, thì xảy ra vụ việc Nguyễn Thân ra Hà Tĩnh dụ các Văn thân chi đảng của cụ Phan Đình Phùng ra hàng, đưa về kinh giao cho Pháp đem ra pháp trường xử chém mười mấy người, ông cật lực phản đối và đệ đơn xin từ quan, về mở trường dạy học tại quê nhà. Năm 1902, lại diễn ra mâu thuẩn giữa Nguyễn Thân và Hoàng Cao Khải (một tay sai khét tiếng của Pháp chuyên lộng quyền ở trong triều bất hòa với một tay sai khác có nhiều hành vi phản dân hại nước không kém), để lấy lòng dân, Pháp đành phải thải hồi cả hai. Nguyễn Thuật và cựu thượng thư Hồ Lệ, được vua Thành Thái triệu hồi về kinh để thay thế cho hai nhân vật trên. Năm ấy, ông vừa tròn sáu mươi tuổi và ông còn tiếp tục giữ chức Thượng thư bốn năm sau, cho đến khi vua Duy Tân lên ngôi hơn một năm sau, ông mới nghỉ hưu lần thứ hai. Lại tiếp tục về quê dạy học cho đến khi qua đời (1911).
     Con người yêu nước thương dân trong Nguyễn Thuật không chỉ thể hiện trong hành động, mà còn biểu hiện trong tư tưởng, trong thơ văn, có mạch nguồn từ truyền thống gia đình và bản lĩnh văn hóa của một danh sĩ. Ngay trong bài viết Tiễn cơ mật viện Trương Tố Trai chi Khoái Châu thủ tự (Thuật lại, buổi tiễn đưa chủ sự viện cơ mật Trương Tố Trai đi trấn thủ Khoái Châu), ông viết để giải thích địa danh mà đau đáu như một lời dặn dò làm quan phải biết đến an dân: “Làm quan ơ Khoái giỏi nhớ tên nó suy nghĩ; nghĩa là tới nơi đó để tìm kiếm an lợi cho dân. Ai đói nghèo thì cho ăn uống. Ai đau nhức than rên, ai bị nguy khốn thì cứu vớt, ngoại trừ cái không Khoái, gạn lấy cái Khoái thôi, cho nên dân đẹp lòng. Không làm như vậy mà bảo rằng: Ta có gì khoái mấy cái đó, ta tìm cái ước muốn to của ta, ngồi trên nhà cao, hưởng lộc nhiều, kẻ xu phụ đầy ngỏ, tôi tớ đông đầy ở trước, thinh sắc yến tiệc ít không vừa lòng không khoái thì chỉ có nước ăn hối lộ thôi, vơ vét chài bòn của dân, kiêm lấy không biết chán ấy là điều dân hết sức không khoái. Ăn uống no nê thì lòng khoái, nhưng dân thì lo buồn về cái ấy (vì họ ăn đủ no là mừng). Người có lòng vì dân thì biết đem cái vui mà đưa về cho dân vui, hoặc có thể xua tan cái lo buồn mà làm mãi chuyện cho vui khoái với mình “Khoái thư trích lục”. Tác phẩm của ông, ngoài phần thơ viết bằng chữ Nôm (mà thực chất là hát nói), văn thơ viết bằng chữ Hán như Hà Đình ứng chế thi sao (2 quyển), Hà Đình văn tập, Hà Đình văn sao, Mỗi hoài ngâm thảo (2 quyển), Hà Đình thi thảo trích sao (2 quyển), Vãng sứ Thiên Tân nhật ký, Trung triều định lệ, Khoái thư trích lục. Ngoài ra, ông còn viết chung với các tác giả khác những tác phẩm văn học, sử học có giá trị như: Đại Nam quốc sử tàng thư mục, Đại Nam cương giới vững biên, Hoàng gia cẩm thuyết, Quốc triều danh nhân mạc ngấn, Ngự chế Việt sử tổng vịnh, Tây Sa thi thảo, Danh công thi thảo, Thi thảo tạp biên, Danh sơn thắng thủy thi, Tì bà quốc âm tân truyện, Trung ngoại quần anh hội… Thơ ông giàu tính nghệ thuật, dù là thơ trữ tình thế sự hay vịnh chí, vịnh vật đều mang chủ đề rõ ràng, mang sức nặng tư tưởng và giọng điệu thâm trầm, thể hiện qua phép ẩn dụ, ví von, so sánh: “Cá lớn ao sâu giáp cạnh đường/Song sa bốn mặt cửa lồng gương/Thềm hoa ngày lặng kình nghê đứng/Dặm liễu thu trong ruỗi ngựa trường/Người ngáp bên giường đành chịu vậy/ Tiếng than xó góc có ai thương?/Mười năm đèn sách công mòn mỏi/ Bến nghé xa trông lệ mấy hàng “(Không đề). Thơ chữ Nôm như các bài nói về Chí anh hùng, Chữ tình, Chữ nhàn… thể hiện tư tưởng nhân văn sâu sắc, giọng điệu hùng hồn, thản nhiên tự tại của kiếp nhân sinh giữa cuộc đời đầy thị phi và nhiều hệ lụy… Về văn xuôi,  ở tập di cảo có vóc dáng vừa tạp bút, vừa tản văn Khoái thư trích lục thể hiện nét bút tài hoa, một lối thư pháp đạt đến đỉnh cao về hình thức, nội dung đi vào các chủ đề thể hiện sự đa dạng màu sắc thẩm mỹ của đời sống như hoa, cảnh vật, hoa và mỹ nhân, tầng sâu văn hóa chân – thiện – mỹ của kiếp người, bằng một giọng điệu hóm hỉnh mà sâu sắc, nhàn tản mà triết lý, nhẹ nhàng như sương khói nhưng vẫn le lói những ánh lửa lòng, tiêu biểu cho đặc điểm tản văn của cây bút tài hoa này: “Cửa không cần đóng, sân có hoa rụng, đánh khánh thắp hương, lắng sâu lối suy tư người tục, ngồi yên trên bồ đoàn (ghế), trăng chợt lạnh mùa thu, soi gương tóc mày, nhìn vào cổ kính” (Khoái thư trích lục). Có thể nói, đây là tác phẩm thể hiện rõ hình tượng tác giả, cái tôi tài hoa, phóng khoáng, âm ấm tro than cứ như chực bùng cháy của cảm xúc trữ tình, đồng thời còn là sự chiêm nghiệm đời sống, qua cái nhìn và cảm quan hiện thực một cách xác tín.
     Thư pháp chữ Hán tài hoa là con đường dẫn tác giả, vốn mang trong tâm hồn bản chất nghệ sĩ, đến với nghệ thuật hội họa. Cũng như nhiều họa sĩ cùng thời, dường như nghệ thuật hội họa truyền thống chỉ chú tâm vào vẽ tĩnh vật, vẽ cảnh, nếu có vẽ người chỉ vẽ một cách trực tiếp theo lối truyền thần. Và, Nguyễn Thuật cũng không ngoại lệ. Những gì mà ta còn giữ được của ông ngày nay như các bức tranh Bàn A sơn, Lộ Địch sơn, Nghiên bút mặc, Hà Kiều… thể hiện quan niệm nghệ thuật mang dấu vết của trường phái thi trung hữu họa trong nghệ thuật hội họa truyền thống phương Đông, gần gũi với nghệ thuật hội họa của Vương Duy.          
     Người ta thường nói, người xứ Quảng là con người hành động, chứ không phải là kiểu người suy tưởng. Những gì hiện ra trên trang giấy, vẽ ra những hình khối đời sống và vóc dáng tâm hồn của Nguyễn Thuật, thông qua sáng tác các loại hình nghệ thuật của ông, thực chất cũng là kiểu hành động, một dạng đấu tranh bằng ngòi bút, thể hiện một thái độ rõ ràng đối với đời sống: đấu tranh bảo vệ lẽ phải, cái đúng, cái đem lại lợi ích cho quốc gia dân tộc; kiên quyết lên án, đấu tranh với cái sai, cái xấu, làm tha hóa cuộc sống con người. Nguyễn Thuật là một trong những mẫu người văn hóa mang đậm dấu ấn truyền thốngvăn hóa xứ sở quê ông.
P.P.P
P.P.P

Các tin khác:

CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ








Thông báo
















Thống kê truy cập

00006196768

Hôm nay: 1775
Hôm qua: 6974
Tháng này: 56075
Tháng trước: 99301
Năm này: 863726
Số người đang Online: 85