Chào mừng kỷ niệm 88 năm Ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam (18/11/1930 - 18/11/2018)!
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Danh nhân

Tiểu La - Nguyễn Thành (1863-1911)

Tác giả: Nguyễn Hữu Hiệp - Phan Văn Minh Ngày đăng: 9:30 | 08/05/15 Lượt xem: 6024

     I. MỘT NHÂN SINH TRỌN ĐỜI CAO CẢ
     Cụ Nguyễn Thành sinh ra trong một gia đình nho học, cha là cụ Nguyễn  Trường làm đến chức quan Bố chánh tỉnh Bình Định thời Tự Đức. Lúc thiếu thời theo cha học ở tỉnh lỵ. Mười sáu tuổi cha mất, tiên sinh phò quan tài về xứ. Hai mươi hai tuổi ra Huế thi hương, gặp lúc quốc đại nạn, kinh thành thất thủ, vua Hàm Nghi lánh ra Quảng Trị xướng hịch Cần Vương, tiên sinh về lại quê hương, chiêu tập anh em bằng hữu, gom góp gia sản, ruộng vườn mưu đồ nghiệp lớn.

Ảnh: Lăng mộ cụ Tiểu La
     Chí đang lập thì vừa dịp nhận ra chủ soái. Hội chủ Cần Vương Nam Ngãi Nguyễn Duy Hiệu đã kịp thư mời. Nguyễn Thành tiên sinh gia nhập Nghĩa hội và giữ chức Tán Tương Quân vụ, chuyên lo việc quân. Từ đó, tiên sinh lấy "cật ngựa, thanh gươm” làm sở hành, đem "thao lược binh thư” làm sở dụng, chí hằng mong góp sức, góp tài hòng giải phóng nước non.
     Và cũng từ đó, biệt danh "Quan Tán Hàm” của tiên sinh lừng lẫy một góc trời, nghĩa sĩ khắp nơi về theo, giặc Pháp và bọn tay sai nghe mà khiếp sợ:
                                             “Lẫm liệt thay, cờ đại nghĩa đã bao phen
                                             Dậy sóng sông Thu, ánh gươm khua

                                             từng có
lúc tan mây Non Hải”
     Khi thắng trận, chú tâm thâu thập binh khí quân lương, những mong tăng cường bổ sung lực lượng nhằm nuôi kế lâu dài; lúc thế cô kiên gan đồn trú thủ thành, quyết không dễ dàng buông gươm kéo cờ hàng giặc. Nhưng xót xa thay, lực bất tòng tâm, thời vận khôn lường, chủ soái Nguyễn Duy Hiệu vì hiếu phải nạp mình, hội Cần Vương Nam Ngãi bị xảo kế của bọn Nguyễn Thân làm cho tan rã... Quân Tán Hàm trên đường hành quân từ Quảng Ngãi về Quảng Nam cứu viện, bị giặc bủa vây, trong thế yếu đường cùng, giữa một trận quyết chiến một mất một còn, Nguyễn Thành tiên sinh đã sa vào tay giặc. Sau nhiều lần khuyến dụ không thành, chúng quản thúc tiên sinh ngay trên quê hương Thạnh Mỹ.
     Đầu năm Quý Mão (1903), chí sĩ lại gặp chí sĩ. Cụ Phan Sào Nam từ lâu đã từng mộ danh Tán Hàm, liền tìm đến nhà tiên sinh luận bàn việc nước. Kế sách Đông Du tiên sinh đã ấp ủ nhiều năm, nay được cụ Phan đồng tình tâm đắc, bèn chia nhau kẻ ngoài người trong, cùng lo việc vận động đưa hàng trăm thanh niên, học sinh sang Nhật, chủ trương đào tạo một lớp sĩ phu ưu tú nhằm gánh vác việc đất nước tương lai.
     Biệt hiệu Tiểu La cũng có từ buổi ấy. Lại tiếc thay, chí lớn chưa thành, lòng trời chưa thuận. Năm Mậu Thân (1908), nhân biến cố chống sưu thuế ở Trung Kỳ, Tiểu La tiên sinh đã bị bắt giam ở nhà lao Hội An rồi đày ra Côn Đảo. Ba năm ngục tù biệt xứ, tiên sinh lúc nào cũng hướng về quê với lòng nhiệt huyết, trù hoạch nhiều sách lược cứu nước, cứu dân.
                                             "Nhưng than ôi!

                                             Ngàn dặm đảo xa thân lưu đày viễn xứ

                                             Muôn trùng non nước hồn vợi bóng cố hương

                                             Bao nỗi đau dày xéo nát can trường

                                             Một búng huyết nhả hờn lưu chí cả”

     Bởi lao dịch khổ sai, bởi tâm can lo nghĩ, tiên sinh đã lâm trọng bệnh rồi qua đời vào ngày 11 tháng 11 năm 1911 trong niềm tiếc thương vô hạn của bạn tù, đồng chí và tất cả những người yêu nước thương dân. Xót xa thay:
                                            “Sóng Côn Lôn thiên thu hát mãi khúc bi ca

                                             Non xứ Quảng đời đời dựng bia hoành tráng”...

     Tiểu La tiên sinh từ trần lúc tuổi đời mới bốn mươi tám, nghiệp cả còn dở dang, nhưng tấm lòng trung trinh ái quốc và nhân cách sĩ phu quả nhiên đã thành viên mãn. Nhân cách đó đã được thâu tóm trong hai câu thơ mà tiên sinh từng ngậm ngùi ở nhà tù Côn Đảo:
                                             “
Bổ thiên vô lực đàm thiên dị
                                             Tế thế phi tài tỵ thế nan”

     Nghĩa là:
                                             “Bàn luận việc trời thì dễ mà vá trời không đủ sức

                                             Giúp đời đã khó mà lánh đời lại càng khó hơn"

     Sau nhiều biến cố lịch sử, năm 1957, hài cốt của cụ Tiểu La đã được con cháu đưa về an táng tại quê hương Thạnh Mỹ, nơi ngày xưa cụ đã từng xây dựng Sơn trại Nam Thịnh, vừa làm cơ sở kinh tế cho nghĩa hội, vừa là nơi hội họp bí mật của sĩ phu khắp ba miền Nam-Trung-Bắc.
     Năm 1997, sau hai mươi hai năm đất nước được độc lập thống nhất như sở nguyện suốt đời của cụ, Đảng bộ và nhân dân huyện nhà cùng gia tộc, con cháu đã quyết định góp công, góp sức xây dựng lăng mộ của cụ tại đất thiêng quê nhà, ở nơi khang trang thoáng đãng, để vừa thể hiện lòng biết ơn, niềm tôn vinh với bậc tiền liệt danh nhân đất nước, vừa hàm ý nêu cao gương sáng cha ông để giáo dục cho lớp hậu sanh, vừa thuận tiện cho việc chăm sóc viếng thăm của những người ngưỡng mộ.
     Từ đây, công đức và sự nghiệp của tiên sinh càng được đời đời khắc sâu ghi nhớ, lớp lớp cháu con sẽ càng vươn lên noi gương cụ trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, làm rạng rỡ quê hương anh hùng:
                                            “Bởi sống như Cụ - một tâm hồn

                                            một nhân sinh trọn đời cao cả

                                            Bởi thác như Cụ - dẫu không tượng đồng,

                                            không bia đá đã lẫm liệt uy nghi

                                            Nào phải đâu sinh ký tử quy
                                            Thế nghiệp ấy lưu phương muôn thuở!”
Nguyễn Hữu Hiệp (Nguyên CT UBND huyện)

II. NHÀ CHÍ SĨ YÊU NƯỚC CHỦ TRƯƠNG HÀNH ĐỘNG

    
     Trong lịch sử Việt Nam cận đại, từ cuộc binh biến năm Ất Dậu (1885) dẫn đến việc kinh thành Huế thất thủ, đã có hai phong trào yêu nước nổi lên theo xu hướng bạo động vũ trang, đó là phong trào Nghĩa hội Cần Vương và Duy tân Hội. Và Nguyễn Thành, người con của quê hương Thăng Bình, một chí sĩ lẫm liệt vào sinh ra tử,  đã giữ những vị trí vô cùng quan trọng trong cả hai phong trào yêu nước trên.
     Nguyễn Thành, hiệu Tiểu La, là tên gọi thứ hai từ khi thành lập Duy Tân hội năm 1904. Trước đó, tên thật của cụ là Nguyễn Hàm, tự là Triết Phu, hiệu Nam Thịnh, sinh năm 1863 tại làng Thạnh Mỹ, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (nay là thôn Quí Thạnh, xã Bình Quí, huyện Thăng Bình, Quảng Nam).
Tiểu La Nguyễn Thành
     Cụ xuất thân trong một gia đình nho học, thân phụ là cụ Nguyễn Trường làm quan dưới triều Tự Đức, từng giữ chức Bố Chánh tỉnh Bình Định, sau sung chức Kinh lược nha sơn phòng sứ, hàm Tham tri. Cụ là con trai thứ, được phong hàm Ấm tử nên người trong vùng thường gọi là Ấm Hàm.
     Thuở nhỏ, Nguyễn Thành nổi tiếng thông minh, hiếu học. Trong tác phẩm Người chủ mưu phong trào du học Nhật Bản, Phan Bội Châu viết: “Tiên sinh Nguyễn Thành lúc nhỏ rất thông minh, đỉnh ngộ, lớn lên có tính khẳng khái khác thường, đầu tiên học chữ Hán, nghe hiểu nhớ nhiều, hơn cả bạn bè”. Ông theo cha vào Bình Định học chữ và luyện tập võ thuật. Năm 16 tuổi, cụ Nguyễn Trường mất, ông đã tự lo liệu mọi việc để đưa thi hài cha từ Bình Định về chôn cất tại quê hương Thăng Bình. Về sống với mẹ, ông chuyên tâm luyện tập võ nghệ, nghiên cứu binh pháp. Ngoài ra, ông còn  tìm đọc các loại sách về kinh tế, lịch sử, địa lí và những loại sách bị cấm khác.
     Năm 1885 (Ất Dậu), Nguyễn Thành ra Huế dự kỳ thi Hương nhưng sắp đến ngày thi thì xảy ra cuộc binh biến do Tôn Thất Thuyết lãnh đạo, tấn công quân Pháp ở đồn Mang Cá và tòa Khâm Sứ. Cuộc binh biến không thành công. Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở, Quảng Trị, phát hịch Cần vương. Kinh thành Huế thất thủ, con đường cử nghiệp của Ấm Hàm cũng chấm dứt. Ông quay về quê hương, từ giã bút nghiên nuôi chí diệt thù cứu nước.
     Sau này, trong một bài văn tế cụ Tiểu La tại trường THPT Tiểu La Thăng Bình có đoạn viết:
                                         “...Xuân mới ngoại hai mươi, nợ non sông đòi chia tay nghiên bút
                                         Vời trông xa bốn bể, chí nam nhi thôi mài miệt sử kinh
                                         Nhìn xã tắc đảo điên mà lòng chẳng sá công danh

                                        Thấy cùng dân cơ khổ nên dạ không màng văn nghiệp...”
     Từ đây, Nguyễn Thành đã tận hiến cả phần đời còn lại của mình cho lí tưởng đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc ra khỏi ách nô lệ lầm than.
     Ấm Hàm lúc bấy giờ mới 22 tuổi, đã tự mình đứng ra chiêu mộ trai tráng trong vùng Thăng Bình, Quế Sơn , ngày đêm luyện tập võ thuật, binh pháp đợi ngày xông pha chiến đấu dưới ngọn cờ Cần Vương.
     Tháng 9 năm Ất Dậu (1885), Ấm Hàm phối hợp với Trần Văn Dư lên kế hoạch đánh chiếm tỉnh thành Quảng Nam. Ấm Hàm nhận nhiệm vụ chỉ huy đội quân tiên phong đã tiến công chớp nhoáng khiến kẻ địch không kịp trở tay. Nghĩa quân chiến thắng vang dội. Ấm Hàm sai tịch thu hết vũ khí quân dụng của địch rồi rút quân về lập căn cứ trên vùng núi Ô Gia thuộc huyện Đại Lộc. Trong khi đó, Trần Văn Dư cương quyết đóng quân ở lại, xây lũy sửa thành. Nhưng khi quân Pháp phản công, quân của Trần Văn Dư vì quân ít thế cô, vũ khí thô sơ nên phải rút lui về căn cứ sơn phòng. Sau đó, sơn phòng cũng thất thủ, Trần Văn Dư bị bắt rồi bị giặc sát hại vào tháng 12 năm đó.
     Đầu năm 1886 Nghĩa Hội Cần Vương Nam-Ngãi-Định chính thức thành lập, tôn Nguyễn Duy Hiệu làm hội chủ, lập đại bản doanh gọi là Tân Tỉnh ở Trung Lộc thuộc huyện Quế Sơn để chỉ huy. Nguyễn Duy Hiệu viết thư mời Ấm Hàm tham gia và cử ông giữ chức Tán Tương quân vụ, kiêm Tham biện tỉnh vụ. Từ đấy nhân dân trong vùng gọi ông là Tán Hàm.
     Tán Hàm lập nhiều đồn trại ở vùng trung du Quảng Nam, tổ chức nghĩa quân thành cơ, đội, đề ra kỷ luật, thưởng phạt nghiêm minh, ngày đêm ráo riết luyện tập binh pháp, võ thuật. Để mở rộng địa bàn kháng chiến, ông  bàn với Nguyễn Duy Hiệu lập thêm các căn cứ phía nam của tỉnh như căn cứ ở núi Gai, La Nga, Eo Gió, An Lâm, kho quân lương ở Dốc Trâm, các lò rèn đúc binh khí ở Đồng Linh, Phước Cang và một nơi chế hỏa pháo, tạc đạn ở Phước Hà. Chỉ trong vòng mấy năm, nghĩa quân đã phát triển lực lượng rầm rộ, dần dần làm chủ trên khắp vùng nông thôn Quảng Nam. Nhưng quân càng đông, chi phí càng lớn, Tán Hàm phải xin gia đình bán gần 30 mẫu ruộng để chi vào việc quân. Với tài chỉ huy đầy mưu lược, nghĩa quân của Tán Hàm đã đánh nhau với quân Pháp trên 60 trận lớn nhỏ, trong đó có những trận thắng vang dội ở Ái Nghĩa, Thu Bồn, Hải Vân... khiến quân Pháp và Nam triều phải kiêng dè.
     Năm 1887, nghĩa quân của Mai Xuân Thưởng bị quân của bọn tay sai Nguyễn Thân, Trần Bá Lộc bao vây ráo riết ở chiến trường Ngãi - Định, Tán Hàm đưa quân vào tiếp ứng. Quân của Tán  Hàm đã gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề, buộc chúng phải rút lui. Nghĩa quân của Mai Xuân Thưởng thoát khỏi vòng vây địch nhưng cũng đã suy yếu khá nhiều. Nguyễn Thành đã đóng quân ở lại chiến trường Quảng Ngãi trong suốt một năm với nhiệm vụ củng cố lực lượng Nghĩa hội.
     Tuy nhiên, do tương quan lực lượng quá chênh lệch nên đến khoảng giữa năm 1888, Nghĩa hội Cần Vương Nam- Ngãi- Định bước vào thời kì tan rã. Tân Tỉnh bị đốt cháy, san bằng, Phan Bá Phiến uống thuốc độc tự tử, Nguyễn Duy Hiệu tự trói mình nộp mạng cho Pháp, nhận lãnh hết trách nhiệm về mình để chịu chết. Nguyễn Thành đưa quân về ứng cứu cho Nghĩa hội Quảng Nam. Trên đường rút lui, nghĩa quân của ông đã bị giặc chặn đánh bất ngờ tại Cầu Cháy, thuộc huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi. Ông bị ngã ngựa và sa vào tay giặc.
     Tại nhà giam Quảng Ngãi, Nguyễn Thành khước từ mọi âm mưu mua chuộc của kẻ thù hòng lôi kéo ông về cộng tác với Pháp. Cuối cùng, nhằm xoa dịu và thuyết phục con em giới sĩ phu lớp trước, bọn Nguyễn Thân buộc lòng phải đưa ông về quản thúc tại quê nhà.
     Từ đây là giai đoạn 15 năm “mai danh ẩn tích” của Nguyễn Thành. Tại Nam Thịnh Sơn trang của gia đình ở làng Thạnh Mỹ, bên ngoài nhằm che mắt sự dòm ngó của nha phủ sở tại, ông tỏ ra an phận làm ăn, không mơ màng đến chính sự. Chỉ trong vòng ba năm, Sơn trang đã phát triển vượt bậc, kẻ ăn người làm ra vào tấp nập. Người ta thấy ông thường đi thăm các gia đình nông dân nghèo khổ, nói cười vui vẻ, hòa đồng với cuộc sống của họ. Lúc bấy giờ, nhiều người tưởng ông đã thỏa mãn trong thú điền viên mà lãng quên Tổ quốc đồng bào. Nhưng thực ra hằng đêm ông vẫn luôn canh cánh bên lòng tìm kiếm một hướng đi khác thích hợp để đánh đuổi quân thù. Con đường Cần Vương đã thất bại, hàng chục sĩ phu từng cùng ông xông pha trận mạc, phò vua cứu nước nay đã thành liệt tử cô thần, đất nước vẫn điêu linh mà hướng đi mới thì chưa ló dạng. Ông đem tâm sự đó gửi đến hai người đồng chí của mình là Đỗ Đăng Tuyển và Châu Thượng Văn. Hai nhà trí thức này đã cung cấp cho ông những tài liệu sách báo về các phong trào độc lập, dân chủ, dân quyền đông tây. Từ đó ông đã quyết tâm theo đuổi con đường đấu tranh giải phóng dân tộc theo quan điểm mới. Ông bỏ tên Nguyễn Hàm, lấy tên mới là Nguyễn Thành và bước sang một khúc ngoặt mới trong sự nghiệp cứu nước.
     Năm 1903, Phan Bội Châu từ Huế vào tận Sơn trang Nam Thịnh để diện kiến Nguyễn Thành. Chí lớn gặp nhau. Hai chí sĩ ngay từ đầu đã tỏ ra tâm đầu ý hợp với tư tưởng hành động. Nguyễn Thành đã đưa ra ba kế sách xây dựng lực lượng mà cụ Phan rất khâm phục. Trong Ngục Trung Thư, Phan Bội Châu kể lại:
     "Tôi đem chí muốn ra phân trần. Cụ vỗ tay nói: "Hay dữ! Thuở nay ai muốn mưu toan đại sự, trước hết phải cần ba điều này: một là thu phục lòng người, hai là góp số tiền lớn, ba là sắp đặt mua sắm quân khí cho đủ. Hễ lòng người đã chịu tin phục thì số tiền lớn có thể góp được. Có tiền thì vấn đề quân giới không khó giải quyêt đâu".

     Để thu phục lòng người nhằm đáp ứng được tâm lý trung quân thời bấy giờ , hai cụ đã đi đến quyết định tìm một đích tôn của hoàng tộc làm minh chủ. Và Phan Bội Châu đã ra Huế tìm được Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, một người thuộc dòng chính của nhà Nguyễn, vốn bấy lâu vẫn nuôi chí lớn phục hưng đất nước.
     Ngày 8 tháng 4 năm Giáp Thìn (1904), Nguyễn Thành tổ chức cuộc hội nghị bí mật tại Nam Thịnh sơn trang. Cuộc họp qui tụ hơn 20 nhân vật trọng yếu trong cả nước để quyết định thành lập Duy Tân hội và bầu Cường Để làm Hội trưởng. Cuộc họp đã bàn bạc triển khai kế hoạch hoạt động, trong đó Nguyễn Thành và Phan Bội Châu được giao nhiệm vụ cầu viện vũ khí từ bên ngoài. Năm 1905, Nguyễn Thành đã lo liệu mọi điều kiện để đưa Phan Bội Châu và một số đồng chí khác sang Nhật nhằm vận động chính phủ Nhật giúp đỡ.
     Tuy nhiên, sau khi Phan Bội Châu sang Nhật, vấn đề cầu viện đã bất thành. Cụ Phan về nước bàn với Nguyễn Thành chuyển hướng từ cầu viện sang việc đề xướng phong trào Đông du, chủ trương  đưa thanh niên học sinh sang Nhật du học. Phan Bội Châu lo công tác đối ngoại, Nguyễn Thành nhận trách nhiệm vận động kinh tài và công việc của Hội trong nước. Và có lẽ vì thế mà ông lấy biệt hiệu là Tiểu La(2).
     Để có số tiền lớn gửi sang Nhật cho du học sinh, Tiểu La đã cùng các đồng chí vận động tổ chức các hội học, hội nông, hội công, hội thương... ở các tỉnh, chăm lo sản xuất, kinh doanh, thu lợi tức, quyên góp tiền bạc, riêng Hội Thương đã có tới 72 chi nhánh khắp các tỉnh thành. Sau đó Hội Thương thất bại, ông lại vận động hào phú thành lập Quảng Nam hợp Xã ở Đà Nẵng. Ông còn góp cả cổ phần kinh doanh để lấy tiền gởi cho Phan Bội Châu lo liệu việc lớn.
     Phong trào Đông Du được giới trẻ hưởng ứng rầm rộ, nhất là thanh niên Nam kỳ. Trong vòng một năm đã có 200 học sinh xuất dương và số tiền gởi sang Nhật lên đến 12.000 đồng (bạc Đông Dương). Trong cuộc vận động này, Nguyễn Thành đã giữ một vai trò cực kì quan trọng.
     Thế nhưng, khi phong trào Đông du đang phát triển thì năm 1908, ở Quảng Nam nổ ra phong trào “cự sưu kháng thuế” rồi nhanh chóng lan ra khắp các tỉnh Trung kì. Phong trào bị thực dân Pháp đàn áp dã man, các chí sĩ cách mạng kẻ bị tử hình, người bị giam cầm, khổ sai. Nguyễn Thành bị bắt giam ở nhà tù Hội An trong 2 tháng rồi bị kết án “9 năm biệt xứ, đày đi Côn đảo” và mất tại đó năm 1911.
     Từ khi Tiểu La bị bắt, lưu học sinh bên Nhật cũng lao đao, phần thì thiếu tiền, phần thì thực dân Pháp bắt tay với Nhật yêu cầu trục xuất lưu học sinh Việt Nam. Phan Bội Châu và Cường Để cũng phải lần lượt rời đất Nhật. Duy Tân hội tan rã, phong trào Đông Du kết thúc.
     Từ ngục tù Côn đảo, Nguyễn Thành rất đau buồn khi hay tin sự nghiệp cứu nước mà ông cùng anh em đồng chí đã lao tâm khổ tứ xây dựng bao năm nay đã hoàn toàn sụp đổ. Bên cạnh đó, những hung tin về gia đình như vợ và con gái đều từ trần, Nam Thịnh Sơn trang tiêu điều bởi không có ai làm trại chủ. Ông lâm bệnh nặng, nhiều lần thổ huyết rồi mất ngày 11 tháng 11 năm 1911 khi mới 48 tuổi.
     Về sự kiện này, bài văn tế của Trường THPT Tiểu La viết tiếp:
                                          ...Than ôi! Ngàn dặm đảo xa, thân lưu đày viễn xứ

                                          Muôn trùng non nước, hồn vợi bóng cố hương

                                          Bao nỗi đau dày xéo nát can trường

                                          Một búng huyết nhả hờn lưu chí cả...

     Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng sự tồn vong của  Duy Tân hội đã gắn liền với  tâm huyết và công lao của Tiểu La Nguyễn Thành. Những đóng góp to lớn của ông chứng tỏ ông là người chủ xướng và lãnh đạo Duy Tân Hội, đảng cách mạng cứu nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Phan Bội Châu chỉ là người thực hiện và được giao trách nhiệm lãnh đạo ở hải ngoại, do đó trở thành linh hồn của phong trào Đông Du. Chính cụ Phan cũng thừa nhận: "Từ Duy Tân hội đến phong trào Đông Du, chính Tiểu La tiên sinh là ông tổ mở mối, vạch đường khai sinh ra tất cả".Cho đến khi Tiểu La Nguyễn Thành hy sinh tại Côn đảo thì Duy Tân hội và phong trào Đông Du cũng bị khai tử theo ông. Cho nên khi nghe tin Tiểu La Nguyễn Thành qua đời, Phan Bội Châu đã vô cùng đau xót. Trong bài Văn tế  Tiểu La, ông đã khóc Nguyễn Thành bằng những lời lẽ thống thiết như tình anh em ruột thịt:

                                       "...Nghĩ một người đã tạo ra em, thành tựu cho em, mà nay kẻ mất

                                        người còn, hồn trời phách đất!

                                        Mây Hải Vân mờ mịt bóng gươm vàng

                                        Bể Đà Nẵng chập chờn cơn sóng bạc"...

     Về trước tác, Tiểu La là người thiên về hành động nên ít khi sáng tác thơ văn. Tương truyền ông thường làm những bài thơ rất ngắn để tỏ rõ ý chí. Bài “Vịnh con cóc” chỉ có 2 câu chữ Hán:
                                        Thiên địa bất bình nan bế khẩu
                                        Phong vân vị chí thả mai đầu.
      Huỳnh Thúc Kháng dịch:       
                                       Trời đất bất bình khôn ngậm miệng
                                       Gió mây chưa đến hãy chun đầu
     Thậm chí bài thơ “Tiễn bạn đi đày Côn Lôn” chỉ vẻn vẹn có một câu 7 chữ mà Huỳnh Thúc Kháng rất tâm đắc, cho rằng đã đầy đủ ý tứ, chẳng cần thêm bớt:

Đồng thị thiên nhai lộ bất đồng
(Đồng cảnh (đi đày) ven trời lại khác đường).
     Còn dưới đây là bài thơ Tuyệt mệnh sau những lần bị thổ huyết trong tù:
                                        Nhất sự vô thành mấn dĩ ban

                                        Thử sinh hà diện kiến giang san.

                                        Bổ thiên vô lực đàm thiên dị,

                                       Tế thế phi tài tỵ thế nan.

                                       Thời cuộc bất kinh vân biến huyễn,

                                       Nhân tình chỉ khủng thủy ba lan.

                                       Vô cùng thiên địa khai song nhãn,

                                       Tái thập niên lai thí nhất quan
.
     Huỳnh Thúc Kháng dịch thơ
                                       Một việc chưa thành tóc nhuộm màu,

                                       Non sông ngoảnh lại thẹn mày râu.

                                       Vá trời thiếu sức bàn nghe dễ,

                                       Cứu thế không tài tránh ở đâu?

                                       Cuộc biến ngại gì mây đổi sắc,

                                       Tình người e nổi sóng thêm sâu.

                                       Mở toang hai mắt xem trời đất,

                                       Ngắm thử mười năm vẫn thế ru
.
     Khi sắp trút hơi thở cuối cùng trong bệnh xá trại tù, Tiểu La còn gọi Huỳnh Thúc Kháng ghé sát vào, lấy trong mình ra một miếng giấy nhỏ có ghi mấy lời vĩnh biệt: “Thời cuộc nhất chuyển hảo cơ. Đông Á phong vân kim hậu chính kỳ giả, chư huynh đệ nổ lực chi ngử hựu phụ”
     (Thời cuộc xoay vần, cơ hội tốt sẽ đến. Giông mây Á Đông sau này còn nhiều cuộc biến đổi. Anh em hãy gắng lên) (Huỳnh Thúc Kháng dịch)
     Ở nghĩa địa Côn Lôn, mộ cụ Tiểu La Nguyễn Thành được anh em bạn tù làm dấu bằng những viên đá có khắc chữ “Tiểu La 1911”. Nhờ vậy mà 46 năm sau, cháu nội cụ  là ông Nguyễn Hoàng Huân mới tìm được và cải táng đưa về quê hương. Đến năm 1998, lăng mộ của cụ đã được chính quyền và nhân dân Thăng Bình tái thiết cùng với việc xây dựng nhà thờ Tiểu La.
     Qua lược thuật về thân thế - sự nghiệp Tiểu La Nguyễn Thành, chúng ta đã thấy được vai trò, vị trí quan trọng của cụ trong 2 phong trào yêu nước giành độc lập cuối TK 19 đến đầu TK 20. Tư tưởng cơ bản của cụ là muốn giành được độc lập phải bạo động vũ trang, cho dù phải hiến dâng cả trí tuệ, tính mạng, tài sản của mình, cho dù phải nếm mùi thất bại chua cay cũng không hề nản lòng lùi bước.
     Lại xin trích thêm mấy câu từ bài văn tế của trường THPT Tiểu La để thay cho lời truy niệm:
     Lẫm liệt thay!
                                              ... Sóng Côn Lôn thiên thu hát mãi khúc bi ca

                                             Non xứ Quảng đời đời dựng bia hoành tráng...


Phan Văn Minh (Ủy viên BCH Hội VH-NT tỉnh Quảng Nam)

N.H.H - P.V.M

Các tin khác:

CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ








Thông báo
















Thống kê truy cập

00006196896

Hôm nay: 1903
Hôm qua: 6974
Tháng này: 56203
Tháng trước: 99301
Năm này: 863854
Số người đang Online: 34