NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM MUÔN NĂM!
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Danh nhân

Dưới gốc sưa Nguyễn Thuật…

Tác giả: Trương Điện Thắng Ngày đăng: 8:14 | 10/12/14 Lượt xem: 3637

Lâu không về Hà Lam (Thăng Bình), nhớ! Lại tìm về Hà Lam, lại qua Hà Kiều. Có bữa dậy sớm tản bộ khi trời chưa sáng tỏ, quanh quẩn qua Hà Kiều rồi đứng dưới gốc hai cây sưa mà cách đây hơn trăm năm cụ Nguyễn Thuật đã trồng lúc nào không hay…

     Ở làng Hà Lam xưa có hai người nổi tiếng. Đó là cụ Hà đình Nguyễn Thuật (1842 -1911) và cụ Sơn phòng Nguyễn Tạo là hai anh em chú bác và là những nhân vật nổi tiếng học giỏi, hết lòng với quê hương. Tuy hai cụ đều đỗ đạt, ra làm quan dưới nhiều triều vua nhà Nguyễn (Nguyễn Tạo đỗ cử nhân và Nguyễn Thuật đỗ phó bảng làm đến chức Đông Các đại học sĩ), nhưng lòng dạ bao giờ cũng gắn chặt với cái làng Hà Kiều này. Những cụ già trên tám mươi giờ ở Hà Kiều vẫn nói chắc như đinh đóng cột rằng chính hai ông đã khởi xướng và quyên góp, vận động dân đào kênh dẫn nước tưới cho đồng ruộng và xây cây cầu đá Hà Kiều này để nhân dân đi lại… Khi nghỉ hưu, hai ông đã mở rộng hồ sen, trồng những cây đa, cây sưa trên đất Gò Thường để bây giờ thành một địa chỉ văn hóa của cả huyện Lễ Dương.

     Ai chứ cụ Hà Đình thì lứa học trò mê văn chương chúng tôi trước năm 1975 đã tìm đọc các sách báo viết về cụ và nhiều người, thậm chí đến nay vẫn còn thuộc lòng nhiều thi phẩm chữ Hán mà cụ để lại. Nguyễn Thuật, Dương Khuê, Đào Tấn… là những văn nhân sống qua hai thế kỷ, từng giữ nhiều trọng trách dưới thời phong kiến, từng chứng kiến những bể dâu của đất nước thời thuộc Pháp vì vậy họ gửi lại trong những tác phẩm của mình những tâm sự thầm kín mà không ít nỗi đau đời…
     “Cụ Thượng Hà Đình” như cách gọi đầy kính trọng của dân làng Hà Lam khi Nguyễn Thuật về hưu ở làng.  Ông không chỉ là đại thần thanh liêm và tiết tháo suốt 8  đời vua triều Nguyễn từ Tự Đức đến Duy Tân. Học giới đương thời đã coi ông như một sử gia, một nhà giáo dục, nhà  thơ, nhà văn lớn… Trong những trước tác lưu lại, khi nhớ đến Nguyễn Thuật, người đời sau yêu văn chương không thể không nhắc đến thi phẩm Mỗi hoài ngâm thảo của ông. Đọc những câu: Trăng mờ khói lạnh cây lưng núi/ Vượn hót năm canh não dạ người/ Vốn sẵn ở đời ba vốc lệ/ Há gì ba tiếng mới tuôn rơi (bài Thính viên), hay ông từng Tức sự trước cảnh đất nước bị xâm lăng:
Áo cừu ngựa béo thích chơi hùng
Nhưng việc ngày nay thế chẳng xong
Cách bể ngựa trâu tìm lối đến
Nặng thề răng mép có ai không?
Hồn tinh bể hận chưa yên sóng
Chim Việt cành Nam dám quản công
Nghe nhạc quản gì không vái nhận
Sân Tần mong tấm áo mang chung
(Cụ Hoàng Tạo dịch từ nguyên bản chữ Hán)
      Đối với quê hương Hà Lam, nhất là khi về trí sĩ, cụ luôn “vun bồi cảnh trí, khuyến dương thiện tục, nhiều công  trình còn  lưu dấu  tích,  tên  tuổi hoặc  lời đề  từ, câu đối, văn bia hoặc phụng cúng bạc tiền trùng tu di tích như Văn miếu huyện Lễ Dương, Đình - Miếu Nghĩa tự Hà Lam...” mà văn bia và sử liệu nay vẫn còn lưu lại…
     Dưới hai gốc sưa già hơn trăm tuổi bây giờ, tôi chạnh nghĩ đến những địa danh đẹp đã vào lòng người: Hà Khê, Hà Trì, Hà Kiều của đất Hà Lam. Nước khe nhỏ không đủ tưới hay rửa sạch chua phèn cho đồng lúa, hạn hán chỉ chờ nước trời khiến dân nghèo điêu đứng. Cụ Thượng Hà Đình và Sơn phòng Nguyễn Tạo đã đóng góp hàng trăm quan tiền cho đào rộng Hà Khê dẫn nước từ sông Ly Ly về. Lại đào ao thả sen, xây cầu đá lát ván dày thay cầu tre gập ghềnh, tạo cảnh quan thấm đẫm hồn quê và đường đi thuận lợi phục vụ dân sinh… Hai mươi năm trước, khi còn bao cấp, nhiều nhà nghiên cứu khi đến Hà Lam đều công nhận khu vực Hà Kiều như một làng cổ đồng bằng Quảng Nam vẫn tồn tại ngoài Hội An… Cảnh ấy, người ấy thật đúng với những câu thơ của cụ: Thập lý hà phong hương bất đoạn/ Bản kiều tây bạn thị ngô gia (Mười dặm hương sen mùi còn thoảng/ Bờ tây cầu ván ấy nhà ta).
     Dưới hai cây sưa và cây đa cổ thụ ấy còn có một Văn miếu xây dựng từ đời Tự Đức thứ 9 (1856) thuộc phủ Thăng Hoa, huyện Lễ Dương. Văn miếu nhìn ra bàu sen Hà Kiều ở hướng chính nam biểu thị cho lòng tôn sư trọng đạo của người Quảng ở phía nam từ hàng trăm năm trước… Văn miếu, theo các tài liệu còn để lại cho thấy đã có tên 180 vị khoa bảng qua hơn 120 năm, qua 10 triều vua nhà Nguyễn…
     Qua nhiều năm, qua những dông bão của đất trời, cây sưa già có lúc nghiêng ngả nhưng đã được giữ lại với thành tâm của các lớp hậu thế. Nó là chứng nhân của một vùng đất trọng việc học, vùng đất mà bao thế hệ đau đớn kinh qua những thăng trầm của lịch sử. Vùng đất còn hằn dấu của ca dao Cây khô xuống đất cũng khô/ Phận nghèo đi tới nơi mô cũng nghèo… Đáng mừng là mấy năm gần đây, phong trào học tập Thăng Bình đã nở rộ. Trên những con đường làng thoáng đãng, bao ngôi trường ngói đã đỏ au như màu phượng, rộn rã những buổi áo trắng tan trường…Toàn huyện có 22 Hội Khuyến học trực thuộc huyện và 326 chi hội trực thuộc xã, trong đó có 62 chi hội trường học. Các Trường THCS Lê Quý Đôn (thị trấn Hà Lam), Trường THCS Chu Văn An (xã Bình Sa)... là những điển hình phối hợp hiệu quả tiêu chí nhà trường - gia đình và xã hội. Đặc biệt, các dòng tộc khuyến học ở xã Bình Tú, tộc Đoàn xã Bình Chánh, tộc Nguyễn Tấn, thôn Tất Viên, xã Bình Phục, tộc Trương Quang ở thôn Quý Thạnh, xã Bình Quý; tộc Ngô  Kế Xuyên; tộc Võ Bình Giang; tộc Mai Bình Dương; tộc Châu  Bình Sa đã vượt qua nhiều khó khăn, giúp thế hệ con em tiếp bước sách đèn. Bây giờ mỗi năm Thăng Bình có hàng trăm em thi đậu vào các trường cao đẳng, đại học.

     Dưới gốc sưa cổ thụ của cụ Nguyễn Thuật, con đường đến với chữ nghĩa và kiến thức của các thế hệ tuổi trẻ ở Thăng Bình ngày nay đã trở thành một tiếng gọi tiếp nối âm vang từ quá khứ!
T.Đ.T
T.Đ.T

Các tin khác:

CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ








Thông báo
















Thống kê truy cập

00005802034

Hôm nay: 1249
Hôm qua: 2862
Tháng này: 65119
Tháng trước: 85535
Số người đang Online: 58