NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM MUÔN NĂM!
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Di tích lịch sử

Di tích lịch sử văn hóa "Lăng Bà Chợ Được"

Tác giả: SuperUser Account Ngày đăng: 10:53 | 13/06/14 Lượt xem: 1365

Theo “Truyện Thần Nữ Linh Ứng” được lưu giữ tại lăng Bà, Bà họ Nguyễn huý là Của (Nguyễn Thị Của), người Châu Phiếm Ái, Tổng Mỹ Hoà, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn (nay thuộc huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam).

LÝ LỊCH DI TÍCH:  
  I. Tên gọi di tích: Lăng Bà Chợ Được.
  II. Địa điểm và đường đi đến:  
  Lăng Bà Chợ Được  thuộc  tổ  16,  thôn  3  (Phước Ấm), xã Bình Triều,  huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
  Lăng Bà  Chợ Được  cách  Trung  tâm Hành  chính  Thị  Trấn Hà  Lam,  huyện Thăng Bình 5km.  
  Từ ngã tư Hà Lam đi theo đường ĐT 613 về hướng Đông khoảng 4km nhìn về phía  tay phải  là đài  tưởng niệm Hà Lam  - Chợ Được,  từ đây đi  tới khoảng 500m nhìn về  phía  tay  trái  là đến  lăng Bà Chợ Được  (lăng Bà nằm ngay ngã  ba Bình Triều).
  III. Sự kiện văn hoá:
  Theo “Truyện Thần Nữ Linh Ứng” được  lưu giữ  tại  lăng Bà, Bà họ Nguyễn huý là Của (Nguyễn Thị Của), người Châu Phiếm Ái, Tổng Mỹ Hoà, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn (nay thuộc huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam).
  Bà sinh ngày 25 tháng 02 năm 1799, thời Lê Cảnh Hưng năm thứ 39. Cha họ Nguyễn  huý  là  Trí,  từng  làm  quan  cho  triều  Lê  đến  chức  “Đặc  Tiến  Tòng Đại Phu”. Mẹ họ Trịnh huý  là Tình,  là người phụ nữ nết na, cung kính, vợ chồng  rất đẹp đôi, gia thế tương đối khá giả.
   Sự ra đời của Bà rất kỳ lạ, là con nhà giàu có, sinh nơi khuê các nhưng lại có bụi hồng mù mịt, mây  trắng bồng bềnh,  tiếng nói  sang  sảng, người đẩy đà,  trắng trẻo như  tuyết, da  thịt nõn nà, bước đi khác  thường (mỗi bước đi chỉ khoảng chín đốt ngón  tay). Bà  thích ăn mặc sạch sẽ, quần áo may xong phải giặt rồi mới mặc, không ăn thức ăn mua sẳn ngoài chợ, người đoan chính, dịu dàng, đối với trẻ con thì  rất  khéo  chăm  sóc  vỗ  về,  thường  làm  tiếng  sáo mũi,  thích  nghe  hát và  tiếng pháo nổ. Bà được người Vú nuôi họ Đoàn huý  là Đoán  thay mẹ chăm sóc dạy dỗ và người Vú này được Bà rất quý mến.
  Bà quy tiên  ngày 19 tháng 11 năm Đinh Sửu (1817), đời Gia Long thứ 16, Bà được an táng tại quê nhà, sau khi chôn cất xong, mộ Bà bị một con trâu húc đổ, liền sau đó con trâu  lăn đùng ra chết ngay, người làng không ai không bảo là chuyện lạ, riêng ông chủ bái của làng không tin mà nói rằng: “Trâu chết là sự tình cờ, chớ cô gái ấy làm gì mà linh thiên” nói xong ông chủ bái ôm đầu kêu đau, không bao lâu thì ông chết. Thần phụ đồng nói cho dân biết  là vị chủ bái bất kính  ta, nên  ta bắt chết.
 
  Thần có người cháu họ xa tên là Lê Hùng đi ghe ra Hà Nội buôn bán hẹn đến tháng 5 về. Lúc về có một người quá giang, người này bị  say  sóng nằm mê man chẳng ăn uống gì cả, khi ghe về đến vùng biển Quảng Bình, nửa đêm gặp bảo biển dữ dội, toàn ghe đều chìm hết. Lê Hùng gặp nạn sợ hải, xin thần cứu nạn, lập tức thần nhập vào người bị say sóng cùng đi trên thuyền đứng dậy cầm tay lái, “dừng lại nơi đây có ta không sợ gì cả”, Lê Hùng vâng theo lời dạy quả nhiên được bình an.
  Thần ghét  tính dâm, có một người  con  trai  tên  là Khôi, hễ  thấy con gái nhà người có nhan sắc là động xuân tình, mỗi lần như thế, Thần hiện thành con gái, tuổi chừng 17-18, rất nõn nà để gặp mặt anh ta, khi anh ta thể hiện thái độ bản tính vốn có  thì bổng nhiên Thần biến mất, anh  ta hết sức kinh ngạc,  từ đấy anh  ta đổi  tính t.
  Ở xã Hoà Thanh thuộc phủ Tam Kỳ có người tên là Nguyễn Thuần, chở nước mắm bằng  thuyền ra bến Thần Châu  rồi đi về hướng Tây, có người ở Thần Châu bắt được một con chim lớn, nảy ra ý nghĩ sẽ lấy hai cánh chim làm thành quạt để cúng lên miếu Thần. Nguyễn Thuần nhân lúc say rượu nên muốn xin hai cánh chim nhưng  người  bắt  được  chim  vốn  có  lòng  thành  nên  không  đồng  ý  cho. Nguyễn Thuần bảo ông cứ cho tôi đi, nếu Thần quả có linh thiêng thì tới Hà Thanh mà hại tôi. Vừa nói dứt lời thì Nguyễn Thuần kéo buồm cho thuyền quay ngay lại rồi dùng sào chống thuyền cặp vào bờ sông trước miếu Thần, anh ta quay người và bước lên trước án Thần miếu, tự hô tên và tự bảo “Mày còn khinh mạn ta hết, mày đã thấy sự linh diệu của ta chưa ?” được một lát anh ta lại cúi xuống trước án lạy một trăm lạy để xin Ngài tha tội, khoảng chừng hai khắc, người chú ruột của Nguyễn Thuần thấy  thế, hết  sức kinh hoảng, ông chú vội  tắm  rửa  sạch  sẽ  rồi đến  trước miếu  lạy một  trăm  lạy xin  tạ  tội,  thay mặt cháu mình xin Thần  tha  thứ, may  là Thần dừng phạt, y được bình an. Những chuyện tương tự như vậy không thể kể hết.
  Những năm về  trước, nơi miếu này dân có cúng  thờ áo xiêm, mũ mão, giày bằng giấy, có cả chang tóc rất dài. Mỗi khi thần phụ đồng, tự mặc áo xiêm, mang giày  bằng  giấy  như  đồ  thật,  ngài  đi  qua  lại  trên  bồn  hoa  trước miểu  nhẹ  nhàng không hư gẩy một bông và  không hư rách áo xiêm giấy. Sự anh linh ứng hiện của Ngài được truyền tụng từ đời này qua đời khác.  
  Xưa kia mộ Thần được  táng  tại thôn Phiếm Ái, đến năm Thành Thái  thứ 10, tổng đốc  tỉnh Quảng Nam  là ông Nguyễn Công Thưởng  sợ  sông Ái Nghĩa  lỡ  sát mộ Ngài bằng lập đàn xin dời mộ đến làng Phước Yên. Khi dời mộ, khai quật lên thấy đất  có  đủ năm màu,  cốt  cách vẫn  nguyên vẹn,  dưới  cỏ  có một  dây  chuyền ngọc quấn quanh, đúng  là dung mạo của Thần,  sau khi dời mộ xong, Thần nhập đồng bảo người cháu là Nguyễn Thực chuẩn bị trầu cau và rượu để tạ người làng, người làng nhớ đến Thần và ai cũng bái phục.
  Đến năm Thành Thái thứ 18 (năm Bính Ngọ), Tổng đốc tỉnh này là Hồ Đăng Đệ và quan Bố Chánh phái Hồ Đắc Thiệu làm Huyện Doãn huyện Đại Lộc kêu gọi Nhân dân, Hương Hào quyên góp  tiền bạc để  tu  tạo phần mộ  (nguyên  là mộ đắp đất, sau sửa thành mộ xây).
  Đời Tự Đức thứ 5, năm Nhâm Tý (1848), nhân một chuyến “Vân du” qua làng Phúc Toản, tổng An Thanh Hạ, huyện Phong Dương, phủ Thăng Bình (nay  thuộc thôn 3 (Phước Ấm), xã Bình Triều, huyện Thăng Bình) thấy phong cảnh hữu tình, hội đủ các yếu tố: Thiên thời, địa lợi, nhân hoà. Bà rất hài lòng, Bà có ý muốn quy tụ  thành chợ để mua bán,  trao đổi hàng hoá. Bà hoá  thành  thiếu nữ xinh đẹp, độ chừng mười tám, đôi mươi làm nghề bán trầu, đổi nước, dần dần, kẻ qua người lại ngày một đông đúc  thành chợ, những người có quán  tranh  trong xã đều  tập  trung vào chợ, thuyền bè tấp nập, nhà cửa nối tiếp như một nơi đô hội. Vì vậy người ta gọi là “Chợ Bà” hay “Chợ Được”, có nghĩa là buôn bán đắc (đắc thị).
  Để tưởng nhớ công đức của Bà dân làng tín ngưỡng Thần lực, cầu xin việc gì đều được như ý, nguồn lợi, của cải tuôn đến nên mọi người đồng lòng quyên cúng, lập thành miếu sở, định ra các khoảng lập lăng, tế lễ hàng năm vào ngày 19 tháng 11 và ngày lễ Thần giáng sinh 25 tháng 2 (Âm lịch) là ngày lễ tế Bà.
  Đời Thành Thái thứ 6, năm Giáp Ngọ (1894), các nhà buôn, hào lý, cùng với nhân dân Phước Ấm Chợ Được  lập đơn  trình  lên Tổng  tiếp nhận và  thị  thực. Sau đó được quan Bộ Lễ đề đạt. Nên ngày 20 tháng 9 năm ấy thì được sắc phong “Trai Thục Dực Bảo Trung Hưng Trung Đẳng Thần, Thần Nữ Linh Ứng - Nguyễn hị Tôn Thần”.
  Trong năm được sắc phong ông Nguyễn Công Thuật - Hiệp tá Đại học sĩ Bộ Lãnh Binh (tức cụ Hà Đình ở Hà Lam) được lệnh đến truyền đạt chỉ của Tây cung, giao cho Thái giám ở Thọ  cung Gia Dụ  là Nguyễn Cừ đến  trao  tặng 2  tấm Kim tiền, một tấm là “Tứ Mỹ” cho Phiếm Ái Châu huyện Diên Phúc, một tấm là “Tam Thọ” giao cho Phước Ấm Châu ở lăng Bà - Chợ Được.
  Ngày 23 tháng 12, đời Thành Thái thứ 7, năm Ất Mùi (1895), tiếp được phụng chỉ, Thái giám cung Gia Dụ - Nguyễn Cừ đã giao: khăn nhiễu tốt 2 liên (mỗi liên 3 chiếc),  lụa 2 đoạn  (mỗi đoạn 12  thước), dải Đồng  tâm 2  liên  (mỗi  liên 4  thước 8 tấc), bạc 6 đồng, các thứ trên được chia làm 2 phần, một phần cho Phiếm Ái, một ở lăng Bà - Chợ Được.
  Vì sự hiển linh của Bà, Bà đã giáng cho đồng tử kê đơn bốc thuốc chữa bệnh cứu nhân độ  thế. Đời vua Khải Định cửu niên (1924) đã  lệnh  tặng  thêm cho Bà: “Trang Huy Dực Bảo Trung Hưng Thượng Đẳng Thần”.
  Được  sự ban  sắc của  triều đình,  các nhà  buôn, hào  lý, nhân dân Phước Ấm Chợ Được nói riêng, Bình Triều nói chung đã tổ chức lễ “Rước sắc” rất linh đình, rộn rã.
  Để tưởng nhớ công đức của người sáng lập chợ Được mà tên bà gắn liền với tên chợ: Bà chợ Được, với lòng thành kính và sự hãnh diện. Hằng năm, quan chức, dân chúng địa phương tổ chức lễ tế và “Khoe sắc” vào ngày 11 tháng giêng (ngày nhận  sắc phong đầu  tiên). Từ đó  lễ hội Cộ Bà Chợ Được dần dần hình  thành và phát triển bao gồm phần lễ (lễ rước sắc, lễ cúng đất, lễ cúng Bà) và phần hội (hội đua thuyền, hát bội, rước cộ…) trong đó phần hội rước cộ là điểm nhấn quan trọng tạo nên đặc  sắc  riêng của Lễ hội  cộ Bà,  lễ hội văn hoá dân gian  này  chứa đựng nhiều giá trị quý báu về văn hoá, nghệ thuật, tâm linh và cố kết cộng đồng. Lễ hội
Bà Chợ Được mang ý nghĩa phụng  tự, nhưng đã  trở thành một sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng cộng đồng có sức lan toả rộng rãi tạo nên một cảm nhận chung về lòng biết ơn đối với công đức của Bà.
  IV. Khảo tả di tích:
  Lăng Bà Chợ Được  toạ  lạc  trên một bãi đất  rộng  rãi  thoáng mát ở xóm  chợ thuộc Tổ 16, Thôn 3 (Phước Ấm), Bình Triều. Trước đây, người dân lập một mái nhà nhỏ một gian làm bằng  tranh,  tre để  thờ Bà (1849), về sau ngôi nhà một gian được nâng  lên  thành  ba  gian  rộng  rãi  tường xây mái ngói  (1857),  cuối  tháng  10 năm 1968  (Mậu Thân) nhân dân  trong  làng với  tấm  lòng  thành kính kẻ  ít, người nhiều đã góp kinh phí và xây lại lăng Bà với tường gạch, mái ngói như hiện nay.
  Trước mặt  lăng  là  tấm bình phong đắp nổi hình con cọp và hai  trụ biểu cách điệu hình hoa sen đặt hai bên với hai câu: “Phước linh lập thị quy dân hiệp - Ấm địa danh thành vạn đợi lưu”, trên nóc lăng Bà là bốn chữ “Thần Nữ Linh Ứng”, lăng Bà có diện  tích  tương đối hẹp: 144m2,  lăng được  làm  theo  lối kiến  trúc của đình làng ngày xưa với góc mái cong thường gọi là đao mái. Tuy quy mô và thẩm mỹ không bằng các đình làng nhưng các đao mái của lăng Bà vẫn vút cong ở 4 mái rất  thanh  thoát, nhẹ nhàng. Các đầu đao  lại được  trang  trí hình con phượng - một trong bốn  tứ  linh, hai đầu bờ nắp được đắp vênh lên như mũi  thuyền. Chính giữa mái lăng là rồng chầu mặt nguyệt rất sinh động và tại tường hiên lăng được đắp nổi hai câu: “Đông Tiếp Trà Giang Ninh Hướng Trung Thiên Vân Lộng Vũ - Tây Liên Ngọc Lãnh Trung Hướng Đại Địa Lôi Huỳnh Ba”. Bên  trong  lăng được bài  trí như một ngôi đình  thờ  thần làng. Tẩm  trong cùng  là nơi an phụng Thần vị với  long ngai và hình nộm của Bà bằng vải,  trang phục của hình nộm được may bằng vải đỏ, thêu kim tuyến nhiều màu rực rỡ, Bà đi hài, đầu cài vương miện, bên phải và bên trái bà còn có hai cây quạt to hình trái tim. Trước nơi an phụng thần vị là bàn thờ Bà. Trên bàn thờ, ngoài hương án, đài rượu bằng đồng, bình hoa bằng sứ còn có hòm đựng sắc phong của Bà. Trước bàn thờ là bàn án cũng đặt hương hoa, đèn nến. Bàn án là nơi đồng tử theo lệnh Bà cho thuốc chữa bệnh và mọi việc cúng tế cũng diễn ra ở đây. Hai bên bàn thờ và bàn án có hai hàng tự khí gồm tàn lọng, gươm, đao, hèo tượng trưng đồ bát bửu và lỗ bộ, trên đỉnh bàn thờ có ba chữ đại tự: “Thần Nữ Miếu”, hai cánh bên có hai câu đối nói lên chức sắc của Bà: “Thần Ân Vĩnh Bảo Dực Trung Hưng - Đế Phong Phương Lộc Gia Thượng Đẳng”. Đặc biệt ở bàn án có thờ một cây bút bằng gỗ màu đen, tương truyền rằng trước đây Bà dùng bút này giáng cho Đồng  tử để kê đơn  thuốc chữa bệnh cứu người. Phía  trái bàn thờ Bà là tả ban, phía hữu bàn thờ Bà là hữu ban. Tả ban và Hữu ban đều thờ các vị tiền bối, cả hai bàn thờ này đều đặt hương án, đèn nến, kích thước nhỏ hơn bàn  thờ Bà. Phía ngoài nhìn vuông góc với bàn  thờ Bà  là bàn  thờ công đức và có một bản công đức treo bên trái tường ghi danh những người có công đóng góp xây lăng và làm việc thiện.
    Phía trước lăng là dòng sông Trường Giang trong xanh, yên ả. Xưa kia nơi đây là bến sông, thuyền bè vào ra mua bán tấp nập, tuy giờ đây đường thuỷ không còn thịnh hành nữa nhưng dòng sông bến nước này vẫn có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Phước Ấm. Bên phải lăng  là nhà thờ Tiền Hiền và Nhà văn hoá  thôn. bên trái Lăng Bà  là nhà ông Võ Đình Luận. Sau  lưng lăng là đường bêtông liên xã.
  V. Loại hình di tích: Di tích Lịch sử - văn hoá.
  VI. Giá trị văn hoá khoa học của di tích:
  Lăng Bà Chợ Được là nơi thờ một vị Nữ Thần có vị trí và vai  trò quan trọng trong đời sống  tâm  linh của người Bình Triều, Bà  luôn hiện hữu  trong cuộc sống của  người  dân  như một điểm  tựa  tâm  linh  vững  chắc. Bà  là  người mà  nhân dân Bình Triều  đặt  niềm  tin  về một  thế  lực  thần  linh  luôn  phù  trợ,  cứu độ  cho  cuộc sống của dân chúng.  
  Rước cộ Bà Chợ Được mang ý nghĩa tưởng nhớ công đức của người sáng lập Chợ Được mà  tên của Bà gắn  liền với  tên chợ: Bà Chợ Được, Bà  là nữ  thần  linh ứng được triều đình sắc phong “Thượng Đẳng Thần”, được nhân dân lập lăng thờ phụng, hương khói quanh năm.
  Lễ  hội  có vị  trí  vô  cùng  quan  trọng  trong đời  sống  tâm  linh  của  người  dân Bình Triều nói riêng, Thăng Bình nói chung, đây là một hoạt động diễn xướng dân gian chứa nhiều giá trị nổi bật và quan trọng nhất là giá trị tâm linh, văn hoá, nghệ thuật, điêu khắc, tạo hình, sân khấu, luật tục, lễ nghi, cố kết cộng đồng, đây là cầu nối tâm linh giữa con người với nhau, giữa quá khứ, hiện tại và tương lai góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hoá ở làng xã, bảo tồn những vốn quý của di sản văn  hoá  tinh  thần  của  dân  tộc. Đó  là  nơi  gặp  gỡ,  giao  lưu  văn  hoá  nuôi  dưỡng truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” đắp bồi tình yêu quê hương đất nước cho lớp trẻ. Chỉ  riêng những bàn cộ cũng đã  là minh chứng  sống động cho  sự hội  tụ văn hoá này.
S.A

Các tin khác:

CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ








Thông báo
















Thống kê truy cập

00005804399

Hôm nay: 1641
Hôm qua: 1974
Tháng này: 67484
Tháng trước: 85535
Số người đang Online: 35